vanban.org

Bản án 40/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Phạm Hoàng N 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng N bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Đi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Phạm Hoàng N 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HSST
Ngày 04 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị An

2. Bà Lương Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020, tại trụ Tòa án nhân dân quân Ba Đình. Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2020/TL - HSST ngày 25 tháng 3 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với:

Bị cáo Phạm Hoàng N, sinh năm 1989; Đăng ký hộ khẩu: Số 6, ngõ 479 L, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: 507 C8 T, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Phạm Hoàng D (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ hai; Nhân thân: 01 tiền án: Bản án số 103/2014/HSST ngày 22/05/2014, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, xử phạt 26 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại: 23/10/2015. Nộp án phí HSST ngày 10/07/2014. Bị can bị bắt quả tang ngày 14/12/2019. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 150/buồng 21. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 00 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực trước cổng chợ Ngọc Hà, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ba Đình, phát hiện Phạm Hoàng N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS: 29H9-6351 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay phải của N 01 túi nilong màu trắng có chứa tinh thể màu trắng. N khai nhận là ma túy dạng “đá” mua về để bán cho con nghiện kiếm lời. Tổ công tác đã đưa N cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.

Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, tổ công tác còn thu giữ của N:

- 01 điện thoại di động Sam Sung màu vàng; 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 344.000 đồng; 01 xe máy Wave màu xanh đã cũ, BKS: 29H9-6351, SK: 0088981, SM: 0083981

Tại cơ quan điều tra Phạm Hoàng N khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 ngày 14/12/2019, N đang ở khu vực T thì có anh Hải (là bạn xã hội hiện chưa rõ tên, địa chỉ cụ thể) gọi điện cho Hải từ số điện thoại 0925680164 gọi điện cho N hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy “đá”, N đồng ý và hẹn anh ta ở bến xe Kim Mã để giao dịch. Sau đó, N đi xe máy đến bến xe Kim Mã để gặp Hải. Tại đây, Hải đưa cho N 550.000 đồng, trong đó 400.000 đồng là tiền mua ma túy, còn 150.000 đồng là tiền công. N cầm tiền và đi xe máy đến phố Đội Cấn, tìm mua ma túy, khi đến đoạn trước cửa số nhà 60 phố Đội Cấn, N gặp một người đàn ông không quen biết tên Trang mua của anh ta 01 túi nilong ma túy “đá” với giá 300.000 đồng. Mua xong, N cầm túi nilong trong lòng bàn tay phải và lái xe máy quay lại gặp Hải, khi N đi đến trước cổng chợ Ngọc Hà thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Ngoài ra, Phạm Hoàng N còn khai trước đó vào ngày 10, 12/12/2019 N đã hai lần bán ma túy cho Hải. Sau đó N thay đổi lời khai và khai nhận đây là lần đầu tiên bán ma túy cho Hải nhưng chưa kịp giao ma túy cho Hải thì bị phát hiện bắt giữ.

Kết luận giám định số: 8004/KLGĐ-PC09 ngày 20 tháng 12 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methaphemtamine, khối lượng 0,390gam”.

Cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã xóa án tích, thái độ khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã qua giám định có khối lượng 0,390gam Methamphetamine và 01 ví giả da màu đen đã cũ; trả lại bị cáo 94.000 đồng. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 250.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng bị vỡ màn hình.

Đối với đối tượng bán ma túy cho N và đối tượng Hải mua ma túy của N, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, hiện không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với xe máy Honda Wave, BKS: 29-H9-6351, SK: 0088981, SM: 0083981 qua xác minh chiếc xe thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Minh Hương, SN:1962; HKTT: Số 6 ngõ 479 L, phường T, quận Ba Đình) là mẹ đẻ của Phạm Hoàng N. Việc N sử dụng xe máy đi mua ma túy, chị Hương không biết nên cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Ba Đình đã trao trả lại tài sản cho chị Hương. Chị Hương đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực trước cổng chợ Ngọc Hà, phường Đội Cấn, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,390gam Methamphetamine mục đích để bán cho đối tượng tên Hải để kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Những nội dung về thời gian, địa điểm, đặc điểm, trọng lượng và các tang vật bị thu giữ khi bán ma túy là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án tại Bản án số 103/2014/HSST ngày 22/05/2014, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, xử phạt 26 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại: 23/10/2015. Nộp án phí HSST ngày 10/07/2014 xác định đã xóa án tích. Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt: Không có tình tiết tăng nặng.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó cần thiết áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 ví giả da màu đen đã cũ và 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,390 gam ma túy loại Methamphetamine. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng bị vỡ màn hình và 344.000 đồng do bị cáo thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với đối tượng bán ma túy cho N và đối tượng Hải mua ma túy của N, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, hiện không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với xe máy Honda Wave, BKS:29-H9-6351, SK: 0088981, SM: 0083981 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Hương là đúng theo quy định của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạm Hoàng N 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 12 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 ví giả da màu đen đã cũ và 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,390 gam ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định có chữ ký của cán bộ giám định và bị can Phạm Hoàng N; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng bị vỡ màn hình có số IMEI 353120089779978 theo biên bản bàn giao vật chứng số 88/CSĐT (ĐTMT) ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 344.000 (Ba trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 39491061691 tại kho bạc Nhà nước quận Ba Đình ngày 26 tháng 3 năm 2020.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 04 tháng 5 năm 2020./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ