vanban.org

Bản án 40/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lộc, TP. Huế Tuyên án 18/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lê T, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 09/6/2020). Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 09/6/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê T và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê T, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. PHÚ LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH T THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HSST
Ngày: 18-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC - TỈNH T THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Hậu và ông Nguyễn Đình Phú.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2020/HSST, ngày 30/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS ngày 04/12/2020, đối với các bị cáo:

1. Lê T; sinh ngày 02 tháng 01 năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 4, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê P và bà Mai Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/06/2020 cho đến nay, có mặt.

2. Hồ Văn T, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ N, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân K và bà Hoàng Thị B; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2020 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ A Mai Xuân H, sinh năm 1998, trú tại: Thôn An Bàng, xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế; có mặt.

+ Ông Hồ Xuân K, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1957, đều trú tại: Tổ N, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế; đều có mặt.

- Người chứng kiến: Chị Trần Thị Hồng A, sinh năm 2000; trú tại: Thôn C, xã L, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 09/6/2020, tại quán cà phê G ở Tổ dân phố 5, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc đã phát hiện, bắt quả tang Hồ Văn T đang bán cho Mai Xuân H 01 gói ma túy dạng đá. Thu giữ trong người H01 gói ma túy vừa mua từ T; thu giữ trong người T số tiền 500.000 do bán ma túy cho Hmà có.

Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, tại đoạn đường trước nhà nghỉ Hoàng Cúc, ở Tổ dân phố 3, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc đã phát hiện, bắt giữ Lê T đang có hành vi sử dụng điện thoại di động liên lạc với Mai Xuân H và điều hành Hồ Văn T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 09/6/2020, Lê T cùng Hồ Văn T và Trần Thị Hồng A đang ngồi uống cà phê tại quán T ở Tổ dân phố 3, Thị trấn T, huyện Phú Lộc thì Mai Xuân H gọi điện thoại di động liên hệ với Lê T để hỏi mua ma túy dạng đá với số tiền 500.000 đồng thì T đồng ý. Khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, Lê T, Hồ Văn T, Trần Thị Hồng A không uống cà phê nữa mà ra về. Khi đi ra khỏi quán cà phê, T nói với T “Để quên bao thuốc lá 555”, T trả lời “Đây rồi”, T nói lại “Có cái trong à” (nghĩa là T nói với T có gói ma túy dạng đá được T để ở trong bao thuốc lá 555), T hiểu ý của T và không nói gì. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 59C1-311.79 chở T và Hồng A đi đổ xăng và dạo quA Thị trấn T, huyện Phú Lộc, khi đến trước nhà nghỉ Hoàng Cúc ở Tổ dân phố 3, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, T và Hồng Axuống xe. Lúc này, T nói với T “Đem cây hàng trong gói thuốc xuống cho thằng đi xe Dream ở trường cấp 3”, nghĩa là T nói T đem gói ma túy được để trong bao thuốc lá 555 xuống trường THPT Phú Lộc bán cho Mai Xuân H. T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển số 59C1-311.79 đến trường THPT Phú Lộc để bán ma túy cho Mai Xuân H nhưng không có Hiền, nên T nhắn tin qua ứng dụng Messenger hỏi T “Thằng nớ mô rồi?”, T nhắn tin trả lời lại “Mi cứ lên đi”, T điều khiển xe mô tô biển số 59C1-311.79 lên nhà của mình ở Tổ dân phố Đá Bạc, Thị trấn T, huyện Phú Lộc để ăn cơm.

Đến khoảng 18 giờ 38 phút cùng ngày, T nhắn tin cho T với nội dung “M đem về green với, Hn ở dưới nớ, lấy 5x”, nghĩa là T nhắn tin nói T đem gói ma túy trên về quán cà phê Green ở Tổ dân phố 5, Thị trấn T, huyện Phú Lộc bán cho Mai Xuân H, lấy số tiền 500.000 đồng. T nhắn tin hỏi T “Đưa thằng mô rứa?” thì T trả lời “Thằng drim khi nãy”, T nhắn tin lại “Ời”. Sau khi T đến quán cà phê Green bán ma túy cho H thì bị Công an huyện Phú Lộc bắt quả tang như nội dung nêu trên.

Ngoài lần bán ma túy bị bắt quả tang, Lê T và Hồ Văn T còn khai nhận có hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy khác cho Mai Xuân H, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào vào tối ngày 07/6/2020 (không nhớ cụ thể thời gian), tại khu vực đường sắt thuộc Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, Hồ Văn T đã có hành vi giúp sức cho Lê T, đưa ma túy bán trái phép cho Mai Xuân H với số tiền 300.000 đồng.

- Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/6/2020, tại khu vực đường sắt thuộc Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Phú Lộc, Lê T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy (dạng đá) cho Mai Xuân H với số tiền 300.000 đồng.

Số ma túy bán cho Mai Xuân H, T mua của một người đàn ông tên A tại chợ Nọ, huyện Phú Vang, tỉnh T Thiên Huế.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lộc đã tạm giữ gồm:

* Thu giữ của Hồ Văn T các vật chứng gồm:

- 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, được để trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, màu trắng xAđã được niêm phong bằng giấy A4 màu trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Mai Xuân H, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Trần Minh Chung và 02 (hai) con dấu đỏ của Công an Thị trấn T, huyện Phú Lộc, tỉnh T Thiên Huế;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, có số sim 0329240135; Xe mô tô biển số 59C1-311.79; 500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

* Thu giữ của Lê T các vật chứng gồm:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc, có số sim 0774474434; 1.850.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Tại bản Kết luận giám định số: 357/GĐ ngày 12/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T Thiên Huế kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,0433g là ma túy, loại Methamphetamine.

- Không hoàn trả mẫu tinh thể trắng màu trắng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc do đã sử dụng hết trong quá trình giám định và lưu mẫu.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSPL ngày 29/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố các bị cáo Lê T và Hồ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc; số tiền 500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; Buộc bị cáo Lê T nộp số tiền 600.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Trả lại cho bị cáo Lê T số tiền 1.250.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ cho bà Hoàng Thị Bòng; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ, biển số 59C1-311.79 cho ông Hồ Xuân K

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Lê T, Hồ Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã xác định, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật hình sự nên hợp pháp.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê T đã mua ma túy của một người đàn ông tên Aở chợ Nọ, huyện Phú Vang, sau đó đem bán lại cho Mai Xuân H 03 lần, cụ thể: Ngày 07/06/2020, bán ma túy cho Hvới số tiền 300.000 đồng, ngày 09/06/2020 bán ma túy cho Hhai lần, với số tiền 02 lần là 800.000đồng. Như vậy, tổng số tiền T thu được từ việc bán trái phép chất ma túy là 1.100.000 đồng. Các lần mua bán trên Lê T trực tiếp giao 01 lần cho Mai Xuân H, nhờ Hồ Văn T giao cho H02 lần. Kết quả giám định số ma túy thu giữ được xác định khối lượng ma túy bán cho Hlà 0,0433g ma túy, loại Methamphetamine.

Như vậy, Lê T với 03 lần bán ma túy cho Mai Xuân H, Hồ Văn T 02 lần bán hộ chất ma túy cho Lê T nên các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng "Từ hai lần trở lên" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 36/CT-VKSPL ngày 29/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội, nhưng vì bản chất hám lợi, coi thường pháp luật nên các bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính.

Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội trước đó của mình mà chưa bị phát hiện; bị cáo Lê T có bà nội là Trần Thị Lọn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T Thiên Huế tặng “Bằng khen”, bị cáo Hồ Văn T có bố ruột là ông Hồ Xuân K được Chủ tịch nước tặng “Huy chương kháng chiến Hạng Nhất” đều do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo là đồng phạm, cùng cố ý thực hiện tội phạm mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê T với vai trò vừa là người chủ mưu vừa là người thực hành mua bán trái phép chất ma túy; Hồ Văn T đồng phạm với vai trò là người thực hành trong việc giúp Lê T bán trái phép chất ma túy nên trong vụ án này bị cáo Lê T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo T. Hiện nay, tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Phú Lộc gia tăng và diễn biến phức tạp, để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội thì cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Tuy nhiên, xét các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân tốt nên cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cũng đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Mai Xuân H có hành vi tàng trữ trái phép 0,0433g ma túy, loại Methamphetamine nhưng hành vi của Hchưa đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Mai Xuân H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Phú Lộc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hvề các hành vi này là đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông tên “Anh” tại khu vực gần Chợ Nọ, huyện Phú Vang, tỉnh T Thiên Huế là đối tượng đã bán ma túy cho Lê T, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Hội đồng xét xử không thể xem xét, xử lý.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Bị cáo Lê T bán ma túy cho H3 lần thu được số tiền 1.100.000đồng, trong đó quá trình điều tra đã thu giữ số tiền 500.000 đồng. Số tiền còn lại 600.000đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo T nộp để tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quá trình điều tra có thu giữ của bị cáo T số tiền 1.850.000 đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng, trả lại cho bị cáo T số tiền 1.250.000 đồng.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc, bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với sim điện thoại số 0774474434 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, có gắn sim số 0329240135, bà Hoàng Thị B cho rằng bà cho bị cáo T mượn để sử dụng. Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà B khai mâu thuẫn về nguồn gốc điện thoại cũng như việc cho T mượn điện thoại, bà B không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà là người có quyền sở hữu đối với điện thoại nói trên. Kết quả kiểm tra điện thoại, các dữ liệu thông tin đều của bị cáo T nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xác định là tài sản thuộc sở hữu của bà B. Do bị cáo T sử dụng làm phương tiện liên lạc bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với sim điện thoại số 0329240135 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ, biển số 59C1-311.79 xác định ông Hồ Xuân K là người quản lý hợp pháp, ông Khánh không biết T sử dụng để bán ma túy nên trả lại cho ông Khánh.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Các bị cáo Lê T, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lê T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 09/6/2020).

- Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (Ngày 09/6/2020).

2. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.100.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Lê T số tiền 1.250.000 đồng. (Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản kho bạc của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lộc theo Ủy nhiệm chi ngày 30/10/2020)

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bạc.

- Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0774474434 và sim điện thoại số 0329240135 gắn trong điện thoại di động OPPO màu trắng bạc và điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ.

- Trả lại xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ, biển số 59C1-311.79 cho ông Hồ Xuân K.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lộc).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo Lê T, Hồ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ