- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40 /2020/HSST Ngày : 29 – 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Danh Tuyên
[
2. Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2020/QĐXXST – HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1997 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm Q, xã N, huyện N,tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H (sinh năm 1949) và bà Phạm Thị T (sinh năm 1954); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 27 tháng 02 năm 2020 đến nay. Có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Bá P, sinh năm 1996; nơi cư trú: xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Chị Hoàng Thị Yến N, sinh năm 2004; nơi cư trú: Xóm 9A, xã H, huyện H Nguyên, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng nên khoảng 08 giờ ngày 27 tháng 02 năm 2020, Nguyễn Văn T thuê một người đàn ông (T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) làm nghề lái xe ôm chở T đến khu vực sân bóng đá thị xã C, tỉnh Nghệ An. Tại đây, T
- 1 -
gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma túy và đưa cho người này số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Người đàn ông nhận tiền và chỉ cho T 01 gói thuốc lá ngựa bên trong có chứa ma túy để ở dưới đất. T nhặt gói thuốc lá ngựa lên dấu vào người và đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T mang theo số ma túy chứa trong gói thuốc lá ngựa nêu trên cùng bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đến phòng nghỉ 304, khách sạn H thuộc xóm 11, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Phòng nghỉ do anh Nguyễn Bá P, là bạn của T thuê trước đó, anh P có gọi điện rủ T đến để cùng đi ăn trưa). Khi đến nơi, T gặp anh P và bạn của anh P là chị Hoàng Thị Yến N đang ngồi chơi trên dường. Một lúc sau, T lấy bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa ma túy từ trong gói thuốc lá ngựa ra để ở trên giường cạnh vị trí T ngồi, gói ni lông có chứa ma túy còn lại T vẫn để bên trong gói thuốc lá ngựa. Đến 14 giờ 05 phút cùng ngày, khi T đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Nghi Lộc phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật như đã nêu ở trên.
Sau khi mở niêm phong xác định khối lượng, Cơ quan điều tra đã lấy 0,2 gam (Gồm 0,1 gam chất tinh thể màu trắng của gói thứ nhất và 0,1 gam chất tinh thể màu trắng ở gói thứ hai) thu giữ của Nguyễn Văn T để trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định số 327/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 02 tháng 3 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: "Hai mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1, M2) thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng (02 gói) thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 0,55 g (Không phẩy năm mươi lăm gam).
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không khiếu nại gì về kết luận giám định, các quyết định cũng như các hành vi của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc cũng như của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.
Bản cáo trạng số 43/CT-VKSNL, ngày 15 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T về tội danh, khung hình phạt; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt T từ 13 đến 15 tháng tù.
Bị cáo không phát biểu hời báo chữa và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về quan điểm luận tội.
Lời nói sau cùng tại phiên tòa của bị cáo: bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
- 2 -
Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội qủa tang, kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Do vậy đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ 05 phút, ngày 27/02/2020 tại phòng nghỉ 304, khách sạn H thuộc Xóm 11, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,55 gam (Không phẩy năm mươi lăm gam) chất ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Nghi Lộc bắt quả tang, thu hồi số ma túy cùng bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuy, gây mất trật tự trị an xã hội. Các chất ma túy là chất tàn phá, hủy hoại rất lớn đối với sức khỏe, gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm khôn lường cho con người, là nguyên nhân làm cho kinh tế của nhiều gia đình bị khánh kiệt, gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của chất ma túy và nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng, chứng tó bị cáo là người không chịu tu dượng rèn luyên, coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt nghiêm và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời để đấu tranh phòng chống các loại tội phạm về ma túy.
Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội; cha bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương; là tình tiết giám nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định mức hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (Một) phong bì thư Công an huyện Nghi Lộc được niêm phong, bên ngoài có ghi "Vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Văn Tươi", bên trong có 01 (Một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong; 01 (Một) gói ni lông màu trắng, kích thước
- 3 -
(2x3)cm, bên trong có chứa 0,25 gam (Không phẩy hai mươi lăm gam) chất tinh thể màu trắng; 01 (Một) gói ni lông màu trắng, kích thước (2x3)cm, bên trong có chứa 0,1 gam (Không phẩy một gam) chất tinh thể màu trắng.
- 01 (Một) ống thủy tinh hình trụ, dài khoảng 10cm.
- 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, dài khoảng 10cm.
- 01 (Một) vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu TH.
. Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông lái xe ôm chở Nguyễn Văn T đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho T, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Nguyễn Bá P và chị Hoàng Thị Yến N là người có mặt tại thời điểm Công an huyện Nghi Lộc bắt quả tang Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, anh P, chị N không biết việc T đi mua ma túy về sử dụng, cũng không có mục đích cùng sử dụng ma túy với T. Khi T chuẩn bị sử dụng ma túy thì Công an huyện Nghi Lộc vào bắt quả tang. Vì vậy hành vi của anh P và chị N không đồng phạm với T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và không phạm tội “Không tố giác tội phạm”.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn T 01 năm 01 tháng tù (Một năm một tháng tù), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 02 nảm 2020.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) phong bì thư Công an huyện Nghi Lộc được niêm phong, bên ngoài có ghi "Vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Văn T", bên trong có 01 (Một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong; 01 (Một) gói ni lông màu trắng, kích thước (2x3)cm, bên trong có chứa 0,25 gam (Không phẩy hai mươi lăm gam) chất tinh thể màu trắng; 01 (Một) gói ni lông màu trắng, kích thước (2x3)cm, bên trong có chứa 0,1 gam (Không phẩy một gam) chất tinh thể màu trắng.
- 01 (Một) ống thủy tinh hình trụ, dài khoảng 10cm.
- 01 (Một) ống hút nhựa màu trắng, dài khoảng 10cm.
- 01 (Một) vỏ chai nước khoáng nhãn hiệu TH.
Số vật chứng trên hiện còn tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận ngày 23 tháng 4 năm 2020.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- 4 -
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Nghi Lộc; - VKSND tỉnh Nghệ An - Công an huyện Nghi Lộc; - THA dân sự, THA hình sự; - Hồ sơ Vụ án; Văn phòng TA ( Lưu). - 5 - | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phong |