- Tranh chấp gì? án hình sự — "Duong Thanh T: Tang trữ Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HS-ST Ngày: 30 – 06 – 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Tấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phƣợng
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Minh Thu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đua vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Dƣơng Thanh T, sinh năm 1992, tại G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Khóm 3, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T và bà La Thị Thu T; Có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2020 đến ngày 25 tháng 12 năm 2020 và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2020, trong quá trình tuần tra khép kín trên địa bàn phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Lực lượng Công an phường H tiến hành bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại baga trước của xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 94H3 – 2402.
Thu giữ: 01 gói nylon màu trắng, nẹp miệng một đầu, được xếp gấp làm đôi, trên phần nẹp miệng được hàn kín, bên trong chứa: 02 gói nylon màu trắng, nẹp miệng một đầu, phần nẹp miệng có viền màu xanh, 02 (hai) gói nylon được gắn kết với nhau ở phần nẹp miệng và được hàn kín, bên trong hai gói nylon có chứa nhiều tinh thể trong suốt dạng rắn nghi là chất ma túy tổng hợp (ma túy đá).
- Tại bản kết luận giám định số 07/KLGĐ-PC09 ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong 02 gói nylon màu trắng là chất ma túy; loại Methamphetamine; có tổng khối lượng là 4,95787 gam.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSGR ngày 10 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã G để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Dương Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G giữ nguyên quyết định truy tố và đề xuất áp dụng như sau:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Về vật chứng: Gói ma túy sẽ tịch thu tiêu hủy vì đây là vật cấm tàng trữ
- Ý kiến của bị cáo: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo cho rằng bị cáo đã từng tham gia phá nhiều vụ án ma túy cùng Công an thị xã G nên yêu cầu giảm nhẹ hình phạt hơn mức đề xuất của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, đã có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2020 lực lượng Công an phường H bắt quả tang trên xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 94H3 – 2402. Căn cứ vào kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu thì bị cáo tàng trữ là chất ma túy; loại Methamphetamine; có tổng khối lượng là 4,95787 gam, đồng thời bị cáo nhận bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo vừa mua của một người phụ nữ tên Bé (không rõ họ và tên lót, địa chỉ) tại khu vực vòng xoay thuộc Khóm 5 phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu với số tiền là 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng dần, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
. Tình hình tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn cho nhân loại với hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, đã đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nên cần xử lý nghiêm và áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về khối lượng tàng trữ từ 01 gam đến 05 dưới gam sẽ tương ứng với khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Trong khi bị cáo tàng trữ có khối lượng mà là 4,95787 gam, tương ứng với mức hình phạt tối đa của khung hình phạt là 05 năm tù. Bị cáo cho rằng bị cáo đã từng tham gia phá nhiều vụ án ma túy cùng Công an thị xã G nhưng không được cấp giấy khen hay bằng khen và cũng không có giấy tờ gì chứng minh việc đã từng tham gia nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này là phù hợp. Như vậy, bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho nên chỉ giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt, so với mức hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm. Từ đó, việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G đề xuất bị cáo mức án bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù là phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
. Về vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định: Gói niêm phong có đặc điểm: số 07/GĐ-2021, có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh Duy và có 04 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, sẽ tịch thu tiêu hủy vì đây là vật cấm tàng trữ;
- Đối với phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 94H3-2402 thuộc quyền sở hữu của bà La Thị Thu T. Bà T đem xe đến nhà của bị cáo để sửa, bà T không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà T là phù hợp.
. Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Dƣơng Thanh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
+ Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23 tháng 12 năm 2020 đến ngày 25 tháng 12 năm 2020.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định: Gói niêm phong có đặc điểm: số 07/GĐ-2021, có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh Duy và có 04 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
Do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G đang tạm giữ và quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 5 năm 2021.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Giao bị cáo; - Giao bị hại; - Giao người bào chữa (nếu có); - Giao Viện kiểm sát cùng cấp; - Gửi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; - Gửi Cơ quan điều tra cùng cấp; - Gửi Cơ quan thi hành án hình sự - Trại tạm giam nơi bị cáo giam giữ (nếu có); - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |