- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thành N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HS-ST Ngày 27 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Chi và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Thành N, sinh năm 1992 tại Hà Nam; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố T, phường C, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Thành L, sinh năm 1962 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1960; vợ: Trần Thị P, sinh năm 1992; con: có hai con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 03/01/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Thành L, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1971; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 28/12/2019, tổ công tác Công an phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ 2, phường Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý phát hiện một nam thanh niên đi xe mô tô có biểu hiện ghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình điều tra người thanh niên khai tên là Vũ Thành N và đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 xilanh màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, N khai nhận đó là ma túy của N vừa mua 200.000đ của một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không rõ lai lịch ở Đ, phường T, thành phố Phủ Lý và cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và thu giữ vật chứng, tài liệu gồm: 01 vỏ xilanh màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung vỏ màu vàng; 01 ví màu nâu; 01 chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Vũ Thành N và 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Motosar, màu xanh BKS 34K5 – 2595. Cùng ngày Công an phường Thanh Tuyền chuyển hồ sơ đến Công an thành phố Phủ Lý để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 28/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Vũ Thành N tại tổ dân phố T, phường C, thành phố Phủ Lý. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 248/PC09 – MT ngày 31/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,123 gam, loại heroine”.
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-PL ngày 17/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Vũ Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề xuất Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thành N từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine cùng bao gói hoàn trả sau giám định; trả lại ông Vũ Thành L chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Motostar màu xanh BKS 34K5 – 2595; trả lại Vũ Thành N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu vàng; 01 ví giả da; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Vũ Thành N.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa liên quan đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe máy để làm phương tiện đi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 28/12/2019 tại tổ 2, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Vũ Thành N cất giấu trái phép 0,123 gam chất ma túy, loại heroine mục đích để sử dụng, thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Đánh giá về hình phạt:
* Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến gia tăng các tệ nạn xã hội tạo cơ hội cho các phần tử xấu buôn bán trái phép ma túy gây nhiều hệ lụy xấu trong cộng đồng, làm diễn biến tình hình tội phạm và tệ nạn về ma túy thêm phức tạp. Bản thân bị cáo làm nghề lái xe lại cất giấu ma túy để sử dụng tiềm ẩn nguy cơ cao về việc mất an toàn giao thông gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân.
Khi lượng hình cũng cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
* Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội nhằm mục đích sử dụng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các tình tiết khác của vụ án.
Tài liệu trong hồ sơ được cơ quan điều tra thu thập không đủ căn cứ để xác định người thanh niên đã mua hộ heroine cho Vũ Thành N để xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với toàn bộ số ma túy cùng bao gói thu giữ của Vũ Thành N hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Motostar màu xanh BKS 34K5 – 2595 là tài sản hợp pháp của ông Vũ Thành L (là bố đẻ của N), khi ông L cho N mượn xe không biết N sử dụng để đi mua ma túy nên cần trả lại cho ông L là phù hợp pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu vàng; 01 ví giả da ; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe thu giữ của N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho N là phù hợp pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 136; 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Vũ Thành N 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2019.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong số 248/PC09 – MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT 01.
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung, vỏ màu vàng, màn hình cảm ứng bị vỡ; 01 ví giả da màu nâu (đã cũ); 01 giấy phép lái xe và 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Vũ Thành N.
Trả lại ông Vũ Thành L: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Motostar màu xanh BKS 34K5 – 2595.
(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 17/3/2020).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Thành N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; -VKSND TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an TP Phủ Lý; - Chi cục THA dân sự thành phố Phủ Lý; - Cơ quan Thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mai Oanh |