- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đoàn Phƣơng U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HS-ST Ngày: 13 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Ất và ông K’Kranh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Bùi Đoàn Phƣơng U, sinh năm 2000, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 8, xã C, huyện R, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 3, phường T, thành phố N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ chụp hình; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Đoàn Thị H1; chưa có chồng, con; bị bắt tạm giữ ngày 31/12/2019, hiện đang tạm giam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19h05’ ngày 30/12/2019, tại dãy trọ của bà Đặng Thị T tại tổ 3, phường T, thành phố N, cơ quan Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa bắt quả tang Nguyễn Đình L có hành vi Tàng trữ trái phép 23,1805 gam ma túy loại Ketamine, 13,0442 gam ma túy loại MDMA. Tại cơ quan điều tra, L khai nhận: Ngoài cất giấu ma túy tại chỗ ở của mình, L còn cất giấu ma túy tại phòng của Bùi Đoàn Phương U ở cùng dãy trọ với L.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của U, Cơ quan điều tra thu giữ thêm 1,5828 gam ma túy loại Ketamine và 4,5875 gam ma túy loại MDMA của L cất giấu tại đây. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn phát hiện thu giữ của U 13 Túi nilon bên trong chứa chất rắn màu trắng.
Quá trình điều tra, U khai nguồn gốc 13 Túi nilon chứa chất rắn màu trắng nêu trên là ma túy, do Hoàng Tấn T (SN 1995 ) trú tại tổ dân phố 12, thị trấn D, huyện H, tỉnh Đắk Lắk mang đến phòng trọ nhờ U cất giữ và gán nợ số tiền 2.500.000 đồng mà T đã vay của U trước đó. U tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng, nhưng không có cơ sở khẳng định T là đồng phạm với U.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 hộp giấy màu đỏ, kích thước (19,5x11x55)cm đựng 01 túi nilon không màu, được hàn kín các góc, kích thước (1,5x3)cm; bên trong chứa chất rắn màu trắng (Được niêm phong trong bì T ký hiệu số 05).
- 01 hộp nhựa màu trắng, nhãn hiệu VIPWHITE, kích thước (6,5x8,2)cm đựng 11 túi nilon không màu, được hàn kín các góc và 01 túi nilon không màu, loại túi Zipper, kích thước (1,6x2)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (Được niêm phong trong bì T ký hiệu số 06).
- 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI: 357342086144453, có gắn 01 sim điện thoại số 0947003305.
Tại Kết luận giám định số 04/KLMT-PC09 ngày 07/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:
- Tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 05 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,2062 gam là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định: 0,1260 gam.
- Tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 06 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng mẫu là 4,4085 gam là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định: 3,8594 gam.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Bùi Đoàn Phương U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 (hai năm) đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 ĐTDĐ gắn 01 sim số 0947003305, do không liên quan đến vụ án nên ngày 19/03/2020 Cơ quan điều tra trả lại cho Bùi Đoàn Phương U là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào 19h05’ ngày 31/12/2019, qua khám xét khẩn cấp phòng trọ của Bùi Đoàn Phương U thuộc tổ dân phố 3, phường T, thành phố N cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã phát hiện Bùi Đoàn Phương U có hành vi tàng trữ trái phép 4,6147 gam chất ma tuý loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo biết rõ ma túy là chất làm tổn hại đến sức khỏe con người và là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội nhưng vẫn cất giấu để sử dụng dần. Việc bị cáo tàng trữ chất ma tuý tại nơi ở để cùng bạn bè sử dụng gây mất trật tự an ninh xã hội, để lại hậu quả lâu dài về sức khoẻ con người và bị dư luận lên án gay gắt bởi hệ lụy mà nó gây ra. Vì vậy, cần phải xử phạt mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ do bị cáo gây ra; cách ly bị cáo khỏi xã hội để răn đe và là hình thức giáo dục chung cho mọi người.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông ngoại là Đoàn Thanh H (sinh năm 1952) là người có công với cách mạng được tặng Thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Huy chương chiến sĩ giải phóng và đang bị nhiễm chất độc Dioxin. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 ĐTDĐ gắn 01 sim số 0947003305, ngày 19/03/2020 Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Bùi Đoàn Phương U là phù hợp.
Quá trình điều tra Bùi Đoàn Phương U khai nhận nguồn gốc số ma tuý trên do đối tượng tên Hoàng Tấn T gửi cất giấu giùm và gán nợ số tiền mà T mượn của U trước đó. Tuy nhiên, qua đối chất và làm rõ tại quá trình điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Hoàng Tuấn T, vì vậy không đề cập xử lý.
Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đối với bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đoàn Phƣơng U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Đoàn Phương U 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 31/12/2019).
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định.
- Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa trả lại 01 ĐTDĐ gắn 01 sim số 0947003305 cho Bùi Đoàn Phương U vào ngày 19/03/2020.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa ngày 16/6/2020).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Đoàn Phƣơng U phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND TP. Gia Nghĩa; - Phòng PC 06 và PC 10 CA tỉnh Đắk Nông; - Tổ hồ sơ nghiệp vụ CA TP. Gia Nghĩa; - Cơ quan THAHS CA TP. Gia Nghĩa; - Chi cục THADS TP Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Lưu HSVA, Hồ sơ THA HS; VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Yến |