vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 15/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Chí B, sinh năm 1997 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 40/2020/HS-ST
Ngày: 15-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Hiếu;

2. Ông Phan Trọng Điền.

Thư ký phiên tòa: Ông Văn Nguyệt Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5

năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 29

tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Phan Chí B, sinh năm 1997, tại: Châu Đốc - An Giang; nơi cư trú: tổ 02,

khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ

học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt

Nam; con ông Phan Văn K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971;

có vợ là Võ Tú Q và có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/3/2020 cho đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1991;

- Ông Đỗ Quốc H, sinh năm 1997;

- Ông Lê Văn T, sinh năm 2003;

- Ông Trần Minh T1, sinh năm 2003.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 21/02/2020, lực lượng phối hợp Công an thành phố

Châu Đốc và Công an xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trên đường tuần tra đến khu vực tổ 02, ấp Mỹ An, xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc phát hiện, bắt quả tang Phan Chí B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, bên trong chứa tinh thể trắng (nghi vấn ma túy đá). B khai ma túy đá mua của người thanh niên (tên K, không rõ họ, địa chỉ), đã sử dụng một phần, còn lại cất giấu để tiếp tục sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nhựa chứa tinh thể trắng, 01 điện thoại di động

nhãn hiệu OPPO màu xanh.

Kết luận giám định số: 48/KLGT-PC09 ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ

thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3399 gam.

Ngày 18/3/2020, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc

ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với Phan Chí B về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Cáo trạng số: 39/CT-VKSCĐ ngày 21/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Châu Đốc truy tố Phan Chí B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét được giảm nhẹ hình phạt.

Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày: Lời nhận tội của bị cáo

tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức kh e, đời

sống tinh thần của con người, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật có phần

hạn chế, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn

khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249,

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan

Chí B khoảng 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật

Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung

quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO bị cáo sử dụng liên lạc với K để

mua ma túy.

Đối với người thanh niên tên K (không rõ họ, địa chỉ) bán ma túy cho bị

cáo B, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện

kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm

quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,

truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định

của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người làm chứng

Nguyễn Hoàng T, Đỗ Quốc H, Lê Văn T, Trần Minh T1 đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã

có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở

ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự

quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo B tại phiên tòa phù hợp

với vật chứng vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều

tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang

ngày 21/02/2020, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 21/02/2020,

kết luận giám định về ma túy ngày 05/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công

an tỉnh An Giang, nên có cơ sở xác định: khoảng 19 giờ ngày 21/02/2020, bị cáo

điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu vực khóm Châu Long 2, phường Châu Phú B

điện thoại cho K hẹn địa điểm để mua ma túy sử dụng, bị cáo đưa cho K số tiền

600.000đồng và K đưa cho bị cáo 01 bọc nilon trong suốt hàn kín hai đầu, bên

trong có chứa ma túy đá. Sau đó, bị cáo về nhà sử dụng một phần ma túy đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản. Kết quả giám định xác định tinh thể màu trắng đựng trong 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bị thu giữ là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3399 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện

hành vi cất giấu trái phép 0,3399 gam Methamphetamine để sử dụng với lỗi cố ý; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Ma túy là chất gây nghiện, là mầm mống làm phát sinh nhiều tệ nạn xã

hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng

như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; xét

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong vụ số:

48/KLGT-PC09 (MT) ngày 05/3/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh An Giang. Bên ngoài có in dấu tròn màu đ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang các chữ ký ghi tên Ôn Văn T, Nguyễn Đăng K cùng lượng ma túy còn lại sau giám định, đây là vật cấm lưu hành. Xét, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen số

IMEI1; 8663 76047291 296; IMEI 2; 8663 76047291 288, màn hình bị bể. Đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy. Xét, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người thanh niên tên K bán ma túy cho bị cáo, không rõ về

đặc điểm nhân thân, độ tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp

tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Phan Chí B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Phan Chí B: 01(một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày tạm giam

31/3/2020 (ngày ba mươi mốt, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong vụ số:

48/KLGT-PC09 (MT) ngày 05/3/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an

tỉnh An Giang. Bên ngoài có in dấu tròn màu đ của Cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang các chữ ký ghi tên Ôn Văn T,

Nguyễn Đăng K.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu

OPPO màu xanh đen số IMEI1; 8663 76047291 296; IMEI 2; 8663 76047291

288, màn hình bị bể (mở khóa màn hình 147258).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa Cơ

quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án

Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ các Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Phan Chí B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ