vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt Thào Nọ V 6(sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04 tháng 02 năm 2020

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh có chứa 98 viên Methaphetamine, có kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Nọ V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt Thào Nọ V 6(sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04 tháng 02 năm 2020
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HS-ST
Ngày 30 tháng 6 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn On và ông Lò Văn Dƣỡng

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết - .Kiểm sát viên

Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo sau đây:

Họ và Tên: Thào Nọ V- Sinh năm 1948, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản P T, xã S K, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thào Bua C và bà Vàng Thị D(đều đã chết); bị cáo có vợ và 3 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2020 cho đến nay; Có mặt tại phiên toà.

* Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Giàng A Mơ - Sinh năm 1987

Địa chỉ: Bản Ten Lán, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 04 tháng 02 năm 2020, tại bản Phá Thoóng, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tổ công tác của Công an huyện Sốp Cộp đã phát hiện và bắt quả tang Thào Nọ V đang có hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý; vật chứng thu giữ tại bàn tay trái của Thào Nọ V một gói nilon màu xanh bên trong có 103 viên nén mầu hồng nghi là ma túy tổng hợp; thực hiện việc khám xét nơi ở, tiếp tục thu giữ tại giường ngủ của Thào Nọ V một túi nilon màu xanh bên trong có 7 viên nên màu hồng nghi là ma túy tổng hợp; Thào Nọ V bị bắt giữ bị dẫn giải đến cơ quan Công an huyện Sốp Cộp để làm rõ.

Ngày 06/02/2020, cơ quan điều tra đã mở niêm phong cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, xác định như sau: Túi nilon màu xanh thứ nhất chứa 103 viên nén màu hồng có khối lượng là 10,21 gam, đã lấy 05 viên có khối lượng là 0,50 gam làm mẫu giám định ký hiệu V; túi ninlon màu xanh thứ hai có chứa 07 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,69 gam, đã lấy toàn bộ 07 viên làm mẫu giám định ký hiệu V2; vật chứng còn lại là 98 viên có khối lượng là 9,71 gam ký hiệu V1, 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh nhập vào kho vật chứng của Công an huyện Sốp Cộp.

Kết luận giám định số 299 ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu V, V2 đều là ma túy, loại Methaphetamine; mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số 44/CT - VKSSC ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, đã truy tố Thào Nọ Vvề tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 01/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đi tìm mua ma túy, bị cáo đi bộ đến khu vực giáp danh giữa bản Pu Sút, xã Sam Kha và bản Chăm Hỳ, xã Mường Lèo thì gặp người không quen biết, qua trao đổi bị cáo đã mua được 200 viên ma túy tổng hợp với giá 4 triệu đồng; sau khi mua bị cáo mang về nhà cất dấu để sử dụng dần; ngày 04/02/2020, bị cáo lấy 7 viên gói vào mảnh nilon màu xanh cất dấu trên gường ngủ để sử dụng, số còn lại bị cáo đang cầm trên tay thì bị phát hiện và bị bắt giữ.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi trình bầy lời luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s điểm 0 khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; tuyên xử phạt bị cáo từ 6 đến 7 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh ký hiệu V1 có chứa 98 viên nén màu hồng có khối lượng là 9,71 gam; đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ; bị cáo đã trực tiếp mua và cất dấu 10,9 gam ma túy, loại Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng; Hành vi đó đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự; số lượng ma túy bị cáo cất dấu là trên 5 gam, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo nếu không được ngăn chặn kịp thời chất độc hại này sẽ lây lan, trôi nổi trong xã hội, làm cho tệ nạn ma tuý tại địa phương ngày càng phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội; Do đó, bị cáo cần phải bị trừng trị thích đáng, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa lần nào bị xử lý vi phạm do thực hiện hành vi trái pháp luật;

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo là người trên 70 tuổi; do đó bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s điểm 0 khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo phạm tội về ma tuý và là đối tượng sử dụng chất ma tuý, do đó phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo và đoạt tuyệt với ma tuý.

Đối với người đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý về hình sự, nhưng do không xác định được đối tượng, do đó chưa có căn cứ để xử lý ở vụ án này; đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 10,9 gam Methaphetamine, đã lấy 1,19 gam làm mẫu giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định; vật chứng còn lại là 02 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh, 9,71 gam Methaphetamine, ký hiệu V1, đều là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra bị cáo sẽ phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, nhưng xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn sẽ không có điều kiện thi hành, do đó có thể xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí theo qui định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó bị cáo sẽ được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s điểm 0 khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tuyên bố Thào Nọ Vphạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;

2. Về hình phạt: Xử phạt Thào Nọ V 6(sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04 tháng 02 năm 2020

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu xanh có chứa 98 viên Methaphetamine, có khối lượng 9,71 gam, ký hiệu V1

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 12/6/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an huyện Sốp Cộp.

5. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào Nọ Va.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ