- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Lò Thị T 02 năm 06 tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HSST Ngày: 20/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các hội thẩm nhân dân: Ông Sùng A Nhè;Ông Tẩn Phàn Pao.
- Thư ký phiên toà:Ông Phùng Trung Sơn- Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Lò Thị T.Tên gọi khác: Không, giới tính: Nữ.
Sinh năm 1991, tại xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 00/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Con ông: Lò Văn T (đã chết), con bà: Lò Thị P, sinh năm 1971 (hiện đang chấp hành án tại trại giam Tân Lập, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ); Bị cáo có chồng là Vì Văn M, sinh năm 1992 (hiện đang chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Lai Châu); Tiền án: 01 tiền án tại bản án số 35/2019 ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo chưa đi chấp hành án và chưa được xóa án tích;Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2020 đến ngày 13/6/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 33/6/2020, Lò Thị T, sinh năm 1991, trú tại bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu một mình đi bộ đến xã P, huyện S tìm mua Heroine với mục đích mang về để sử dụng. Trên đường đi đến ngã ba đường lên bản N, xã P, địa phận thuộc bản T, xã N, huyện S thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, qua nói chuyện người này giới thiệu tên T. T hỏi T có Heroine bán không, nếu có thì bán cho T 150.000 đồng, T trả lời có và đồng ý bán, T đưa cho T 150.000 đồng, T nhận tiền và đưa cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng. Mua được Heoroine, T mang về nhà bẻ lấy một ít mang ra sử dụng, phần còn lại T chia thành 03 gói nhỏ, trong đó 01 gói được gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng cất giấu ở khe cửa sổ trong nhà, 02 gói được gói bằng mảnh giấy một mặt màu vàng và một mặt màu trắng cất giấu ở đầu giường ngủ của T không cho ai biết với mục đích để sử dụng dần. Hồi 14 giờ ngày 04/6/2020, khi tổ công tác của Cơ quan Công an huyện Sìn Hồ đang làm nhiệm vụ tại bản T, xã N thì nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về việc tại nhà Lò Thị T đang tụ tập đông người, có dấu hiệu nghi vấn về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác triển khai lực lượng kiểm tra, hồi 14 giờ 15 phút cùng ngày khi đến nhà Lò Thị T thì các đối tượng bỏ chạy, tổ công tác đã khống chế được Lò Thị T, quá trình bắt giữ Lò Thị T đã tự giác giao nộp 01 gói chất bột màu trắng được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng đang cầm trên tay phải có khối lượng 0,2 gam và khai nhận đó là Heroine do T tàng trữ với mục đích để sử dụng. Tiến hành khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở của Lò Thị T, phát hiện thu giữ tại đầu giường ngủ của Lò Thị T 02 gói chất bột màu trắng, mỗi gói đều được một mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, có tổng khối lượng 0,16 gam, T khai nhận đó là Heroine do T cất giấu để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 33 ngày 05/6/2020 của người giám định theo vụ việckết luận: 01gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Thị T (sau khi loại bỏ bao bì) xác định có tổng khối lượng 0,2 gam (không phảy hai) gam.
Tại bản Kết luận giám định số 268/GĐ-KTHS, ngày 13/6/2020của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Thị T gửi giám định là ma túy. Loại: Heroine
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 34 ngày 05/6/2020 của người giám định theo vụ việc kết luận: Cácgói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Thị T (sau khi loại bỏ bao bì): Gói thứ nhất ký hiệu M1 có khối lượng 0,09 gam, gói thứ hai ký hiệu M2 có khối lượng 0,07 gam. Tổng khối lượng của 02 gói M1 và M2 là 0,16 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 270/GĐ-KTHS, ngày 09/6/2020của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột khô màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lò Thị T gửi giám định là ma túy. Loại: Heroine
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS-SH, ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Thị T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:Tuyên bị cáo Lò Thị T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Thị T 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với: 01 phong bì Công văn của công an huyện đã được niêm phong theo quy định bên trong chứa 02 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 mảnh nilon màu hồng. Không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và đề nghị mức hình phạt, bị cáo đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố và đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều điều tra; bản Kết luận giám định số 268 ngày 13/6/2020của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu; bản kết luận giám định số 270 ngày 09/6/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu cùng các tài liệu chứng cứ khác đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 14 giờ 15 phút ngày 04/6/2020, tại nhà của Lò Thị T, sinh năm 1991, trú tại bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, Lò Thị T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,36 gói Heroinevới mục đích sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ bắt quả tang.
Hành vi của Lò Thị T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Do vậy Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên bị cáo phạm tội trong khi đang chờ chấp hành bản án số 35/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo được hoãn chấp hành án vì nuôi con nhỏ, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành các bản án theo quy định pháp luật.
Xét về nhân thân bị cáo: Năm 2014 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị là hoàn toàn phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân khôngcó thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,36 gam Heroine đã gửi hết đi giám định không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập giải quyết. 02 mảnh giấy môt mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 mảnh nilon màu hồng(được niêm phong trong phong bì của Công an huyện Sìn Hồ) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc 0,36 gam Heroine, Lò Thị T khai mua của người đàn ông tên T, khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch). Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 56 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14.
Tuyên bố bị cáo Lò Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Lò Thị T 02 năm 06 tháng tù.
Tổng hợp bản án số 35/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo phải chấp hành là 04 năm 02 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 18 (mười tám) ngày tạm giữ (09 ngày tạm giữ,từ ngày 06/8/2019 đến ngày 16/8/2019 của bản án số 35/2019/HSST ngày 28/11/2019 và 09 ngày tạm giữ, từ ngày 04/6/2020 đến ngày 13/6/2020). Thời hạn tù còn lại 04 năm 01 tháng 12 ngày, tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bị cáo vào trại chấp hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì của Công an huyện Sìn Hồ, bên trong chứa 02 mảnh giấy môt mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 mảnh nilon màu hồng (đã được niêm phong theo quy định).
(Vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Sìn Hồ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sìn Hồ ngày 01/10/2020).
- Án phí: Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 20/11/2020 lên Tòa án cấp trên./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh; - VKSND huyện; - CQCSĐT- Công an huyện; - CQTHA hình sự huyện; - Chi cục THA dân sự huyện; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |