vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng Tuyên án 02/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25 tháng 8 năm 2020.

Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong số 544/2020/PC09 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố Hải Phòng, bên trong chứa 4,16 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và vỏ bao bì của mẫu vật; 01(một) chai nhựa gắn mác "Trà xanh vị chanh 0 độ", có nắp màu đen đục … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Ngọc B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25 tháng 8 năm 2020.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HS-ST
Ngày 02-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Quang Quỳnh

Bà Trần Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2020/TLST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2020/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Hồ Ngọc B, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Phùng Thị Ngọc L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25 tháng 8 năm 2020 đến ngày 31 tháng 8 năm 2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, có mặt. Anh Hoàng Văn C, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn S, đều vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hồ Văn H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại nhà riêng của Hồ Ngọc B thuộc thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, Công an huyện An Lão bắt quả tang Hoàng Văn C, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Hồ Ngọc B đang sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là: 01(một) chai nhựa gắn mác "Trà xanh vị chanh 0 độ", có nắp màu đen đục 2 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn ống tẩu thủy tinh, 01 lỗ gắn đoạn ống nhựa dài 26 cm; 01 bật lửa ga nhãn hiệu "Hoa Việt", 01 túi vải kích thước 10 cm x 6,5 cm bên trong là 01 túi nilon màu trắng kích thước 07 cm x 06 cm có chứa tinh bột màu trắng nghi là ma túy đá và 01 ống nhựa màu trắng kích thước 03 cm x 01 cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão (Cơ quan điều tra) tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Ngọc B tại thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì khác liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 544/KLGĐ-MT ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: "Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 4,40 gam, là loại: Methamphetamine".

Tại Cơ quan điều tra, Hồ Ngọc B khai nhận: Biển là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay. Khoảng 17 giờ ngày 24 tháng 8 năm 2020, Biển đi xe đạp từ nhà ở thôn T, xã A đến khu vực Ngã 3 gốc cây kéo thuộc thôn Đ, xã A, huyện A mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá giá 1.500.000 đồng. B mang gói ma túy về phòng ngủ của B, bỏ tờ giấy bọc ngoài gói ma túy ra rồi đựng trong 01 túi vải tối màu, giấu dưới gầm giường ngủ của B. Sau đó B bắt xe ôm đến Bệnh viện Kiến An để chăm sóc vợ của B mới sinh con. Tại bệnh viện, khoảng 07 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2020 B gặp Hoàng Văn C, do có quen biết nhau từ trước nên B nhờ C chở B về nhà để lấy giấy tờ làm thủ tục xuất viện cho vợ B. Trên đường về nhà, B gọi điện cho S mang tiền đến cho B mượn để phô tô giấy tờ. Sáng đến nhà B đưa cho B vay 50.000 đồng đi phô tô. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, B và C quay lại nhà B, lúc này S vẫn ngồi ở nhà B. B đi vào trong phòng ngủ của B, C và S cũng đi theo sau. Vì biết C và S đều là bạn nghiện nên B nói: "Có đồ ở gầm giường, có chơi thì chơi". Thấy vậy, C lấy ở gầm giường ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. C thấy bên trong tẩu thủy tinh đã có sẵn ma túy nên lấy bật lửa có sẵn trong phòng ngủ sử dụng hết số ma túy đó. Trong lúc C đang sử dụng ma túy thì B có gọi điện cho Nguyễn Văn H đến để B trả lại 01 điện thoại di động mà B đã mượn của H trước đó. Sau khi thấy C đã dùng hết chỗ ma túy có sẵn trong tẩu thủy tinh, B lấy gói ma túy ra bỏ một ít vào tẩu thủy tinh và sử dụng. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi H đến thì B nói: "Chơi một hai khói rồi đợi anh một tí anh đưa điện thoại cho". Khi H vừa sử dụng được hai khói ma túy thì Công an đến bắt quả tang và thu giữ đồ vật như đã nêu trên.

Lời khai của Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H và Hoàng Văn C về cơ bản đều thống nhất với lời khai của Hồ Ngọc B. H, C và S đều là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay. C và H sử dụng ma túy tại nhà B là do B cho, không có sự mua bán. Sáng trình bày tại nhà B, S chỉ ngồi chơi điện tử, không tham gia sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được người đã bán ma túy cho Hồ Ngọc B nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau. Đồng thời cũng trong quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H, Hoàng Văn C và Hồ Ngọc B đều là những đối tượng nghiện ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố Hồ Ngọc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Ngọc B đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến như cáo trạng đã nêu, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện Kiểm sát trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; về mức hình phạt: Đề nghị xử phạt Hồ Ngọc B mức án từ 48 (bốn mươi tám) tháng tù đến 54 (năm mươi tư) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Về tội danh, về căn cứ pháp luật áp dụng: Không tranh luận. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào khoảng 11 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại nhà riêng của Hồ Ngọc B thuộc thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, Hồ Ngọc B đã có hành vi cất giấu trái phép 4,40 gam chất ma túy (loại Methamphetamine) với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo Hồ Ngọc B là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay.

Về hình phạt đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đã và đang là hiểm họa lớn, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân, tiền đề làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã thu giữ đều là công cụ, phương tiện phạm tội và là vật cấm sử dụng trái phép nên cần áp dụng quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Hoàng Văn C, Nguyễn Văn H tại nhà Hồ Ngọc B là do B tự nguyện cho C và H cùng sử dụng, không có sự mua bán, trao đổi ma túy. Hơn nữa bản thân C và H đều là đối tượng nghiện ma túy. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với H và C, đồng thời đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với C và H là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho bị cáo tại khu vực Ngã 3 thôn Đ, xã A, huyện A vào ngày 24 tháng 8 năm 2020 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Điều 135, Điều 136 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25 tháng 8 năm 2020.

- Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong số 544/2020/PC09 của Phòng Kỹ thuật Công an thành phố Hải Phòng, bên trong chứa 4,16 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và vỏ bao bì của mẫu vật; 01(một) chai nhựa gắn mác "Trà xanh vị chanh 0 độ", có nắp màu đen đục 2 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn ống tẩu thủy tinh, 01 lỗ gắn đoạn ống nhựa dài 26 cm; 01 bật lửa ga nhãn hiệu "Hoa Việt" (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng1 0 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão).

- Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Ngọc B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Hồ Ngọc B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ