vanban.org

Bản án 40/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
T
N N N N
N
T ÀN P Ố MỸ T O
TỈN T ỀN
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HNGĐ-ST;
Ngày: 02-6-2020.
Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh
chấp con chung và cấp dưỡng
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚ

N

N

V T N M

T

N N N N T ÀN P Ố MỸ T O, TỈN T ỀN

N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Kiệt.

2. Ông Nguyễn Tất i.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Danh Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 98/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2020 và Quyết hoãn phiên tòa số 33/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trịnh Thị Tr L, sinh năm 1991;

Địa chỉ: số 439/8A ấp M, xã M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: ỗ Văn T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: số 439/8A ấp M, xã M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

(Chị L có mặt, anh T vắng mặt)

N

UN VỤ N:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 14 tháng 02 năm 2020 và các lời trình bày tại tòa, nguyên đơn chị Trịnh Thị Trúc L trình bày:

Chị và anh T tự nguyện cưới nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị và anh T sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống không khắc phục được, anh T không chăm lo cho gia đình và thường xuyên uống rượu. Chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi. Chị và anh T đã sống ly thân từ giữa năm 2010 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung tên Đỗ Khánh Q sinh ngày 16/5/2008. Hiện nay, cháu Q đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được cháu Q và chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn anh Đỗ Văn T đã được Tòa tống đạt hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và không gởi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về nội dung giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng, chị L không còn tình cảm với anh T, hiện cả hai không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Về con chung: Chị L yêu cầu được nuôi con chung và có nguyện vọng muốn được sống với chị L. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L về con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

N ẬN ỊN

T

N:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị L và anh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 21/02/2003 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Đối với bị đơn anh Đỗ Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L xin ly hôn với anh T vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chăm lo cho gia đình. Chị L đã khuyên can nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi. Nay xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị L cương quyết xin ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và không gởi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh T là có thật nhưng anh chị không khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng nên không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị L trình bày, chị và anh T có một con chung là Đỗ Khánh Q sinh ngày 16/5/2008. Hiện nay, cháu Q đang sống với chị. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị L là có cơ sở bởi vì phù hợp với nguyện vọng của cháu Q và cháu Q mong muốn được sống với chị L và nhằm giúp cho cháu Q ổn định tâm lý và cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về việc giao cháu Q cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận việc chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị L phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ỊN :

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị Trúc L.

Chị Trịnh Thị Trúc L được ly hôn với anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Khánh Q sinh ngày 16/5/2008 cho chị Trịnh Thị Trúc L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Văn T không cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Trịnh Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0001101 ngày 14/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị L đã nộp xong án phí

Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự../.

TM.

ỒN ÉT Ử SƠ T ẨM

Thẩm hán – hủ tọa hiên tòa * Nơi nhận:

- TAND tỉnh TG ;

- VKSND Tp Mỹ Tho;

- Chi cục THADS Tp. Mỹ Tho;

- UBND xã L;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

M T Ị MỸ TR N

TM.

ỒN ÉT Ử SƠ T ẨM

T ẨM P N

TỌ P ÊN TOÀ

Cỡ chữ