- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị C yêu cầu ly hôn với anh K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Ngọc C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HNGĐ-ST Ngày 18/8/2020 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Thanh Thảo.
2. Ông Nguyễn Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Trong ngày 18/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 156/2020/TLST–HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2020 và các Quyết định hoãn phiên tòa số: 268/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2020, số: 301/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/7/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đặng Thị Ngọc C, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, Long An.
- Bị đơn: Nguyễn Văn K, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, Long An.
Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã X, huyện T, Đồng Tháp.
(Có mặt: Chị C; Vắng mặt: anh K)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc C trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2004 chúng tôi sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hậu Thạnh Tây, huyện Tân Thạnh, Long An. Đến năm 2013, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân, nên đã ly thân và anh K đã về ấp B, xã X, huyện T, Đồng Tháp sống cho đến nay. Nay tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 09/01/2009, hiện đang sống với tôi. Tôi yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh K cấp dưỡng hàng tháng.
Tại phiên tòa hôm nay, chị C rút yêu cầu về phần cấp dưỡng, chỉ yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Anh Nguyễn Văn K ý kiến: Được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản ý kiến.
* Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
1. Chứng minh nhân dân (photo);
2. Hộ khẩu (photo);
3. Giấy kết hôn (bản chính);
4. Giấy khai sinh (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc C về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn”.
Về thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét thấy: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại ấp B, xã X, huyện T, Đồng Tháp; nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp; theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc C trình bày chị và anh K sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn, hôn nhân là tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cải vả. Từ năm 2013 anh K đã về nhà tại ấp B, xã X, huyện T, Đồng Tháp sống và anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Vợ chồng đã cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng tình trạng không thay đổi được mà ngày càng trầm trọng. Nay, chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn K, từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc yêu cầu cung cấp văn bản ý kiến cho anh K nhiều lần nhằm để tạo điều kiện cho anh và chị C hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng anh K không đến Tòa án và vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh K vẫn cố tình vắng mặt đều này thể hiện sự thiếu trách nhiệm của anh K đối với cuộc hôn nhân, không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ đó, xét yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Ngọc C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về quan hệ nuôi con: Chị C xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 09/01/2009, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi Phương T và yêu cầu anh K cấp dưỡng hàng tháng. Tại phiên tòa hôm nay, chị C rút yêu cầu về cấp dưỡng, chỉ yêu cầu được nuôi con. Việc rút yêu cầu của chị C là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu này.
Xét, yêu cầu của chị C, yêu cầu được tiếp tục nuôi con Nguyễn Ngọc Phương T là phù hợp với nguyện vọng của cháu T nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về chia tài sản và nợ chung: Chị C trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị C phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Ngọc C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
2. Về quan hệ nuôi con:
Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Đặng Thị Ngọc C.
Chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của chị Đặng Thị Ngọc C.
Chị Đặng Thị Ngọc C được quyền tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Phương T, sinh ngày 09/01/2009. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị C không có yêu cầu.
Chị C, anh K có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Anh K được quyền thăm con, không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về quan hệ nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007099 ngày 08/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười; Chị C đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Chị C được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Đương sự; - Lưu HSVA (M.Linh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thanh Tuấn |