- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Th xin ly hôn anh Đ"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ vợ chồng: Chị Cao Thị Th được ly hôn anh Quản Như Đ.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40 /2020/ HNGĐ-ST Ngày 30 /07 /2020 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh, ông Ngô Th Xuân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Ngô Thị Thủy - C¸n bé toµ ¸n nh©n d©n huyÖn L¹ng Giang.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang: Ông Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/ 07 /2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 202 /2020/TLST-HNGĐ ngày 12/06/2020, về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22/06/2020, quyết định hoãn phiên tòa số 46/2020/QĐ- HNGĐ ngày 13/07/2020 giữa:
Nguyªn ®¬n: Chị Cao Thị Th, sinh năm 1989.
ĐKHKTT: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Giang.( Xin vắng mặt).
BÞ ®¬n: Anh Quản Như Đ , sinh năm 1981;
Địa chỉ: Khu A, thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang.( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Cao Thị Th trình bày: Chị và anh Đ có đăng ký kết hôn ngày 25/ 01/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K , huyện C. Trước khi kết hôn chị không được tự do tìm hiểu, nhưng chị vẫn tự nguyện kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2008 vợ chồng có mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trong nhất vào năm 2012, nguyên nhân mâu thuẫn do chồng chị hay uống rượu, vợ chồng hay cãi nhau, vợ chồng có nhiều bất đồng trong cuộc sống và trong việc làm ăn, vợ chồng ly thân từ tháng 04/2020 cho đến nay. Nay xác định tình cảm không còn chị xin được ly hôn với anh Đ.
2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung:
1. Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007.
2. Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009.
Vợ chồng ly hôn chị xin nuôi con chung vợ chồng.
Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Quản Như Đ trình bày: Anh và chị Th đăng ký kết hôn ngày 25/ 01/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K , huyện C. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, kết hôn.Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, vợ chồng không mâu thuẫn, anh có uống rượu, có chửi bới vợ con, vợ chồng có cãi nhau, vợ chồng đã ly thân từ tháng 04/2020 đến nay. Nay chị Th xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung:
1. Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007.
2. Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009.
Anh đồng ý để 02 con ở với chị Th, theo nguyện vọng của con.
Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án có lấy lời khai của cháu Quản Thùy D và Quản Thùy H là con của chị Th, anh Đ các cháu có ý kiến: Các cháu không có ý kiến về việc bố mẹ các cháu ly hôn, bố mẹ các cháu ly hôn các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ cháu, hiện nay các cháu đang sống cùng với mẹ cháu tại xã A.
Tòa án có tiến hành xác minh tại khu 3, thị trấn K thì được cung cấp thông tin: Chị Th và anh Đ có hộ khẩu tại địa phương, việc vợ chồng có mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được vì vợ chồng không báo cho địa phương biết, hiện nay nhà của vợ chồng chỉ có một mình anh Đ sinh sống còn chị Th đã về nhà bố mẹ để từ tháng 4/2020 cho đến nay, vợ chồng anh Đ có 02 con chung, hiện nay các con đang sống cùng với chị Th. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Th đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay chị Th có đơn xin được vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Đ vắng mặt lần 2 không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Th:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Cao Thị Th được ly hôn anh Quản Như Đ
Về con chung: Giao cho chị Cao Thị Th nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007; Quản Thùy H, sinh ngày 24/10/2009.
Về án phí: Chị Th chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn,bị đơn tại phiên tòa. Sau khi thảo luận, nghị án Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Đơn khởi kiện chị Cao Thị Th cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
.Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
.Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án,chị Th xin được vắng mặt tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt lần 2 không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ và chị Th theo quy định tại điều Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Th và anh Quản Như Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2007 tại UBND thị trấn K , huyện C. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Đ là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của chị Th xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, không quan tâm đến nhau, anh Đ có thừa nhận anh có hay uống rượu, có chửi bới vợ con, vợ chồng có cãi nhau, hai vợ chồng đều xác định đã ly thân từ tháng 0/2020 đến nay phù phợp với biên bản xác minh tại địa phương.Tại tòa án chị Th cương quyết xin ly hôn, anh Đ không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng chị Th có mâu thuẫn, có cãi nhau và đã sống ly thân, vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân,việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần cho chị Cao Thị Th được ly hôn anh Quản Như Đ.
. Về con chung: Vợ chồng chị Th, anh Đ có 02 con chung là Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007; Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009 các con đều trên 07 tuổi, quá trình giải quyết vụ án các con đều có nguyện vọng ở với chị Th, anh Đ đồng ý để chị Th nuôi con chung vợ chồng, đối với yêu cầu nuôi 02 con chung của chị Th thì thấy: Hiện nay cháu Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007; Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009 đang học tại xã An Hà, hiện nay chị Th có nơi ở ổn định tại xã An Hà, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con, anh Đ cũng đồng ý để chị Th nuôi 02 con, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhan và gia đình có quy định “ ...trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con” nên để đảm bảo cho cháu D và cháu H ổn định cuộc sống và việc học tập cần giao cho chị Th nuôi con Quản Thùy D , sinh ngày 22/11/2007; Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009 là phù hợp.
Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở anh Đ thực hiện quyền này.
Anh Đ có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Th, anh Đ đều không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 55; Điều 81; Điều 82, 83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Về quan hệ vợ chồng: Chị Cao Thị Th được ly hôn anh Quản Như Đ.
[ 2]. Về con chung: Giao cho chị Cao Thị Th nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là Quản Thùy D, sinh ngày 22/11/2007; Quản Thùy H , sinh ngày 24/10/2009.
Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở anh Đ thực hiện quyền này.
Anh Đ có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
[3]. Án phí:Chị Cao Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0002385 ngày 12/06/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4].[Chị Th , anh Đ vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yêt.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự .
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - UBND TT K ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thu Hà |