- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị T và anh T1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đinh Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HNGĐ-ST Ngày 17-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Sỹ Mạnh
Bà Lương Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2020/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Thôn Đ 4, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Thôn Đ 4, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 06/5/2020 và bản tự khai ngày 20/5/2020, chị T trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Đinh Văn T1 thời gian năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Nói chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm. Tuy nhiên trong quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2018 do phong cách sống không còn phù hợp, nghi ngờ nhau sống không chung thủy, anh T1 thường xuyên theo bạn bè chơi bời cờ bạc, không có trách nhiệm đến cuộc sống chung. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù chị và gia đình đã nhiều lần khuyên B anh T1 thay đổi cách sống để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không T1. Chị bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 11/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh T1.
Về con chung: Có 02 con là Đinh Thành Gia B, sinh ngày 11/3/2011 và Đinh Gia P, sinh ngày 27/01/2015, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Chị xin tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu đến khi đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của cháu B. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng vì chị làm nghề công nhân, mỗi tháng thu nhập kinh tế 09 triệu đồng và có nơi ăn ở ổn định, đủ điều kiện để nuôi con chung hơn anh T1.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T1 vắng mặt, nhưng theo lời trình bày và yêu cầu của chị T. Tòa án đã xác minh và tống đạt trực tiếp giấy triệu tập; thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp của Tòa án cho gia đình anh T1 và chính quyền địa phương để giao lại các văn bản tố tụng trên. Anh T1 đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng trên nhưng không đến Tòa án và Ủy ban nhân dân xã Đ để trình bày lời khai; tham gia phiên họp và hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Sau đó Tòa án đã tống đạt trực tiếp và hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho gia đình anh T1 và Ủy ban nhân dân xã Đ để giao lại cho anh T1. Anh T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và P biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ quy định tại khoản 15, 16 Điều 70, khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nhận thấy:
1. Về tố tụng: Anh T1 là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn đến nay ngày càng trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Chị T bỏ về mẹ đẻ ở từ tháng 11/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị T xin ly hôn anh T1 là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đinh Văn T1.
3. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đinh Thành Gia B, sinh ngày 11/3/2011 và Đinh Gia P, sinh ngày 27/01/2015, hiện đang do chị T nuôi dưỡng, nay chị T xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu và cháu B có nguyện vọng được ở với chị T, cần chấp nhận.
Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Giao cháu Đinh Thành Gia B, sinh ngày 11/3/2011 và Đinh Gia P, sinh ngày 27/01/2015 cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh T1 là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được …. triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T tự nguyện kết hôn với anh T1 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Đánh giá chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm. Song trong thời gian sống chung mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2018 do phong cách sống không còn phù hợp, nghi ngờ nhau sống không chung thủy, anh T1 chơi bời cờ bạc, không có trách nhiệm đến vợ con, nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mặc dù đã được gia đình, thôn xóm hòa giải nhiều lần để vợ chồng sống đoàn tụ nhưng không T1. Chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 11/2018 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị T xin ly hôn anh T1 là có cơ sở chấp nhận; nên xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đinh Thành Gia B, sinh ngày 11/3/2011 và Đinh Gia P, sinh ngày 27/01/2015 hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Chị T xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 cháu đến khi đủ 18 tuổi và cháu B có nguyện vọng ở với chị T được chấp nhận. Cần giao cháu B và cháu P cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đinh Văn T1.
2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thành Gia B, sinh ngày 11/3/2011 và Đinh Gia P, sinh ngày 27/01/2015 cho chị T nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA.0008899 ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị T đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - UBND phường H, quận D, TP Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Sỹ Mạnh Lương Thị Ngân Vụ T - T1 bản sao căn cước công dân, 01 bản sao sổ hộ khẩu gia đình, 01 bản chính giấy chứng nhận kết hôn, 02 bản sao giấy khai sinh của con, bản tự khai, hợp đồng lao động, đơn đề nghị của con, đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ. Chủ tọa công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án: - Đơn đề nghị thu thập tài liệu chứng cứ của chị T ngày 28/5/2020 chồng. 10/6/2020 ngày 23/6/2020 cho anh T1 qua gia đình. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thanh Huyền CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thanh Huyền Về tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án: Tôi đã giao nộp cho Tòa án 01 - Biên bản lấy lời khai của người làm chứng và biên bản xác minh tại UBND xã Đ ngày 09/6/2020 về tình trạng hôn nhân và con chung của vợ - Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ số 136 ngày - Biên bản phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải - Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra chứng cứ số 157 ngày 24/6/2020 - Biên bản xác minh về việc nhận và tống đạt các văn bản tố tụng dân sự |