vanban.org

Bản án 40/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 03/06/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Lê Văn L ly hôn chị Vũ Thị V.

Về án phí: Anh Lê Văn L phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ số tiền 300.000đ anh L đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009641 ngày 06/12/2019 của Cục THADS tỉnh Hải Dương. Anh L đã thi hành xong. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lê Văn L ly hôn chị Vũ Thị V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Lê Văn L ly hôn chị Vũ Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 03/6/2020
V/v“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên và ông Phạm Công Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở, TAND tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1983;

HKTT: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị V, sinh năm 1985;

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.

Tại phiên tòa anh L và chị V đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, anh Lê Văn L trình bày:

Anh và chị Vũ Thị V được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2004 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Vũ Thị V đi lao động tại Nhật Bản không về nước, vợ chồng không liên lạc. Từ năm 2010 đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Anh L xác định cuộc sống vợ chồng của anh và chị V ly thân đã lâu, không còn tình cảm, cả hai bên không đem lại hạnh phúc cho nhau, vợ chồng kết hôn một thời gian dài nhưng không có con chung. Do đó, anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị V để hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh L, chị V không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình: Anh L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Vũ Trọng P là bố của chị Vũ Thị V. Tại các biên bản lấy lời khai ngày 10/3/2020 và 26/3/2020, ông P trình bày: Anh L và chị V kết hôn từ đầu năm 2004. Hiện nay, chị V đang lao động tại Nhật Bản. Chị V đã được ông thông báo các nội dung văn bản tố tụng của Tòa án gửi và chị V cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn. Anh L làm đơn xin ly hôn, chị V xác định vợ chồng ly thân nhau từ lâu, vợ chồng không liên lạc với nhau, tình cảm không còn. Chị V đồng ly hôn anh L. Anh L và chị V kết hôn nhưng không có con chung. Do chị V không cung cấp địa chỉ cụ thể ở Nhật Bản nên ông không thể cung cấp cho Tòa án.

Theo thông tin do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp tại Công văn số 1043/QLXNC-P5 ngày 21/01/2020 thể hiện: Chị Vũ Thị V, sinh ngày 10/8/1985 tại Hải Dương, CMND số: xxxxxxxxx, địa chỉ thường trú tại: xã T, B, Hải Dương; đã được Cục Quản lý xuất nhập cảnh cấp lần lượt 02 hộ chiếu; có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 06/01/2020 qua cửa khẩu Nội Bài bằng hộ chiếu xxxxxxxx, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; Về hướng giải quyết vụ án: Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương xác định do thời hạn chuẩn bị xét xử chưa hết nên đề nghị HĐXX cần tiếp tục yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ, hết thời hạn chuẩn bị xét xử thì sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, đại diện VKSND tỉnh Hải Dương không phát biểu quan điểm về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về Tố tụng: Anh Lê Văn L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn giữa anh và chị Vũ Thị V. Chị V hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Do đó TAND tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng quy định về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn L và chị Vũ Thị V được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 29/6/2004 tại UBND xã T, huyện Bình G, tỉnh Hải Dương nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Vũ Thị V đi lao động tại Nhật Bản không về nước, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm nhau. Từ năm 2010 đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau, vợ chồng ly thân một thời gian dài, vợ chồng không còn tình cảm, cả hai bên không đem lại hạnh phúc cho nhau, vợ chồng kết hôn một thời gian dài nhưng không có con chung. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn của anh L và chị V là trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh L và chị V không có con chung nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.

Về án phí: Anh L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các §iÒu 51, 56, 57 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh; điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 464 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Lê Văn L ly hôn chị Vũ Thị V.

2. Về án phí: Anh Lê Văn L phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ số tiền 300.000đ anh L đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009641 ngày 06/12/2019 của Cục THADS tỉnh Hải Dương. Anh L đã thi hành xong.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ