vanban.org

Bản án 40/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị L 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị L "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HSST
Ngày 28/6/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Anh Thư.

2. Bà Lê Thị Thu Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Luân- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Dƣơng Thị L, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1970 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương T (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); Chồng: Tào Văn H, hai con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/01/2019, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Tào Văn H, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

2. Anh Trịnh Công T1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã N P, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt

3. Anh Trương Ngọc H, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm A, thôn M Đ, xã N T, huyện T N , tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Công T2 , sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ B, phường N N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

5. Anh Trần Minh Q, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ C, phường N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

6. Đào Đức H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ D, phường N, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

7. Chế Văn T3, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ E, phường C, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/12/2018, Trịnh Công T1 đến nhà Dương Thị L hỏi mua 01 túi ma túy “cỏ Mỹ” với số tiền 20.000 đồng, L đồng ý bán và nhận tiền, vào phòng ngủ lấy ma túy giao cho T1 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 túi nilon màu đỏ có chữ Fast Eddy, bên trong có chứa thảo mộc khô thái nhỏ “cỏ Mỹ”; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 20.000 đồng. Sau đó L tự nguyện nộp: 22 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa thảo mộc thái nhỏ; 08 túi nilon màu đỏ có chữ Albutarex, bên trong có chứa thảo mộc khô thái nhỏ; 02 túi nilon màu xanh có chữ Cloud 9, bên trong có chứa thảo mộc khô thái nhỏ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi ra Lệnh khám xét khẩn cấp và thực hiện khám xét chỗ ở của L thì thu giữ 07 túi nilon màu đỏ có chữ Albutarex, bên trong có chứa thảo mộc khô thái nhỏ.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Bị cáo làm nghề bán bánh bèo tại địa phương, bị cáo gặp và quen một người phụ nữ tên Thúy, biết bị cáo kinh tế khó khăn nên Thúy đặt vấn đề cung cấp “cỏ Mỹ” cho bị cáo L bán, L đồng ý bán để kiếm lời. Từ tháng 7/2018 đến ngày bắt quả tang là 17/12/2018, L mua của Thúy 05 lần ma túy “cỏ Mỹ” số tiền 16.000.000 đồng với khối lượng bao nhiêu L không nhớ, sau đó L phân ma túy “cỏ Mỹ” thành từng túi nilon nhỏ để bán cho những người sử dụng với giá từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng. L đã bán cho nhiều đối tượng, trong đó có: Nguyễn Công T2 mua 02 lần mỗi lần 50.000 đồng; Trương Ngọc H mua 01 lần 100.000 đồng; Trần Minh Q (Cu em) 02 lần một lần 20.000 đồng và một lần 30.000 đồng, còn các đối tượng khác như H1, T3…L không nhớ rõ lần bán và số lượng bán. Ngoài số tiền L thu lợi từ việc bán ma túy cho những đối tượng T, H, Q thì L còn thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng.

Theo kết luận giám định số 47/KLGĐ-PC09 ngày 20/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Thảo mộc bên trong phong bì gởi giám định có khối lượng là 4,46g; có 5f-ADBICA.

- Thảo mộc bên trong hộp giấy thứ nhất gởi giám định có khối lượng là 136,99g; có 5f-ADBICA.

- Thảo mộc bên trong hộp giấy thứ hai gởi giám định có khối lượng là 50,30g; có 5f-ADBICA.

Tổng khối lượng thảo mộc khô có 5f-ADBICA bên trong phong bì và 02 hộp giấy gởi giám định là 191,75 gam

5f-ADBICA là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 133, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 06/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Dương Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Thị L từ 07 đến 08 năm tù giam. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong hộp giấy có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký giáp lai của các ông: Nguyễn Văn D, Vy Cao Th và Trương Văn Th1; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 20.000 đồng theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/5/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi; Buộc bị cáo L nộp số tiền 5.250.000 đồng do phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước, tiếp tục tạm giữ số tiền 5.250.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi tại Biên lai thu tiền số AA/2010/06365 ngày 06/05/2019 để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự các văn bản tố tụng cho những người này, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Dương Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Để có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2018 đến ngày 17/12/2018, Dương Thị L đã mua của đối tượng Thúy (không rõ nhân thân, lai lịch) 05 lần ma túy "cỏ Mỹ" với tổng số tiền 16.000.000 đồng, ma túy mua được bị cáo phân nhỏ và bán cho nhiều đối tượng, trong đó có: Nguyễn Công T1 02 lần mỗi lần 50.000 đồng; Trương Ngọc H 01 lần 100.000 đồng; Trần Minh Q (Cu em) 02 lần một lần 20.000 đồng và một lần 30.000 đồng, H1, T3 (L không nhớ rõ lần bán và số lượng bán cho H1, T3)….. Ngày 17/12/2018, khi đang bán cho Trịnh Công T1 20.000 đồng thì bị bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy thu giữ tại nhà bị cáo qua giám định là 191,75 gam thảo mộc khô có 5f-ADBICA. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Dương Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung là phạm tội 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên, theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Dương Thị L nhận thức được hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Thị L không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Thị L thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính, chồng bị cáo bị ung thư, hoàn cảnh gia đình khó khăn (theo Đơn xin xác nhận hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bị cáo có xác nhận của UBND phường N, thành phố QNg ngày 27/6/2019) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với đối tượng tên Thúy là người bán ma túy cho L, do L khai không đủ thông tin về thân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi chưa xác minh xử lý được, vì vậy sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với những đối tượng mua ma túy của Dương Thị L mục đích để sử dụng: Trịnh Công T1, Nguyễn Công T2 , Trương Ngọc H, Trần Minh Quang, Đào Đức H1, Chế Văn T3. Đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp với chính quyền địa phương lập hồ sơ để quản lý, giáo dục theo quy định.

Đối với Tào Văn H là chồng của bị cáo, quá trình điều tra thể hiện H không liên quan đến hành vi phạm tội của L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành đựng trong hộp giấy có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký giáp lai của các ông: Nguyễn Văn D, Vy Cao Th và Trương Văn Th1 tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 20.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy mà có tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/5/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

Buộc bị cáo L nộp số tiền 5.250.000 đồng (tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng, tiền do bán ma túy mà có là 250.000 đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.250.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi tại Biên lai thu tiền số AA/2010/06365 ngày 06/05/2019 để đảm bảo thi hành án.

Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Dương Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Dương Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị L 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành đựng trong hộp giấy có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và có chữ ký giáp lai của các ông: Nguyễn Văn D, Vy Cao Th và Trương Văn Th1 tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy mà có tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/5/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

Buộc bị cáo L nộp số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó: Tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), tiền do bán ma túy mà có là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi tại Biên lai thu tiền số AA/2010/06365 ngày 06/05/2019 để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Dương Thị L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. * Nơi nhận:

Cỡ chữ