vanban.org

Bản án 40/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 19/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Phạm Quý T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2019.

Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy: Chất dạng tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu M = 0,0762 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quý T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Phạm Quý T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HSST
Ngày: 19/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú.

Bà Nguyễn Thị Thinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Quỳnh Anh, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 04 năm 2019 và thông báo số 01/2019/TB-TA ngày 08 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Phạm Quý T, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: nam; Sinh năm 1984, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà 30, ngõ 150, đường 2, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị H; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2019 đến ngày 26/02/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (có mặt).

Người làm chứng: Anh Phạm Xuân T1, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 22/02/2019 T đang ở nhà tại phố V, phường T, thành phố N thì anh Phạm Xuân T1 sinh năm 1970 trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là bạn của T gọi điện rủ T đi lên huyện N để thăm bạn, T đồng ý. Sau đó anh T1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade biển kiểm soát 35B2-0...72 đến nhà T. Khi anh T1 đến nhà, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B2-0...72 chở anh T1 đi lên huyện N, tỉnh Ninh Bình. Do T có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên trên đường đi T nói với anh T1 “Đi sang bên cầu Non Nước em có tí việc rồi đi N”. Khi đi qua cầu Non Nước thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định khoảng 100m, T dừng xe và bảo anh T1 đứng đợi, còn T một mình đi bộ vào trong một ngõ nhỏ, khi đến một ngôi nhà ven đường, T gõ cửa sổ nói “Bán cho 300.000 đồng ma túy đá” đồng thời T lấy 300.000 đồng đưa qua lỗ cửa sổ, phía bên trong có một người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm. Biết là ma túy đá, T cầm và cất vào túi quần bò phía trước bên phải đang mặc và đi lại chỗ anh T1 đứng đợi. Sau đó T chở anh T1 đi lên huyện N. Khi T chở anh T1 đi đến khu vực đường Lương Văn Thăng, phố 11, phường Đ, thành phố N thì gặp Tổ công tác Công an phường P phối hợp với Đ, thành phố N đang làm nhiệm vụ, T đã tự giác lấy từ túi quần bò bên phải phía trước đang mặc ra 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong có tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận là ma túy đá vừa mua bên khu vực cầu Non Nước, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định với giá 300.000 đồng để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng thu giữ của T và đưa T cùng tang vật về trụ sở công an phường Đ, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại hiệu Nokia 1202; thu giữ của anh T1 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 35B2-0...72.

Cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng ở trong 01 gói nhỏ thu giữ của Phạm Quý T có trọng lượng 0,15 gam kí hiệu M gửi giám định để xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 108/KLGĐ-PC09-MT ngày 25/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,145 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 108/KLGĐ-PC09-MT ngày 25/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Quý T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 25/03/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Phạm Quý T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; xử phạt Phạm Quý T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2019.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 0,0762 gam chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu do cơ quan giám định hoàn trả lại.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL: 20-21); Biên bản niêm phong vật chứng (BL: 22); Kết luận giám định số 108/KLGĐ-PC09-MT ngày 25/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (BL: 26). Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận hồi 10 giờ ngày 22/02/2019 tại đường Lương Văn Thăng, phố 11, phường Đông Thành, thành phố N. Phạm Quý T có hành vi cất giấu trái phép 0,145 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. (Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II có STT 323; nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Do đó, hành vi cất giữ trái phép 0,145 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Trọng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi gặp Tổ công tác Công an phường P phối hợp với Công an phường Đ đang làm nhiệm vụ, T đã tự giác lấy từ túi quần bò bên phải phía trước đang mặc ra 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm bên trong có tinh thể màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận là ma túy đá vừa mua bên khu vực cầu Non Nước, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định với giá 300.000 đồng để sử dụng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,0762 gam chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu do cơ quan giám định hoàn trả lại là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Các vấn đề khác:

- Đối với 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia 1202 thu giữ của Phạm Quý T, quá trình điều tra xác định Trọng không sử dụng vào việc liên lạc trao đổi mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho chị Phạm Thị Thanh T sinh năm 1991 trú tại phố V, phường T, thành phố N (em gái của T) được T ủy quyền nhận lại tài sản.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 35B2-0...72 thu giữ của anh Phạm Xuân T1. Qúa trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên do anh T1 đứng tên đăng ký và là chủ sở hữu, ngày 22/02/2019 T điều khiển xe mô tô chở anh T1 đi lên huyện N để thăm bạn, sau đó T nói có việc và chở anh T1 sang khu vực cầu Non Nước thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để T mua ma túy. Việc T đi mua ma túy và cất giấu trong người anh T1 không biết, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Phạm Xuân T1. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 35B2-0...72 cho anh T1 là có căn cứ

- Về nguồn gốc gói Methampetamine thu giữ của Phạm Quý T, Trọng khai mua của một người đàn ông ở một ngôi nhà cách cầu Non Nước khoảng 100m, thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Trọng không biết tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng của người đàn ông này và không nhớ cụ thể đặc điểm của ngôi nhà T đã đến mua ma túy nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS;

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quý T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Phạm Quý T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/02/2019.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy:

- Chất dạng tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu M = 0,0762 gam là ma túy, loại Methamphetamine.

- Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/03/2019 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ khoản 2 các điều 135 và 136 BLTTHS. Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Quý T phải chịu 200.000đ.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ