vanban.org

Bản án 40/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên Tuyên án 08/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS Tịch thu để tiêu hủy 2,163 gam Heroine và 1,45 gam Methamphetamine. Đã được niêm phong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Thái - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG CHÀ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HSST
Ngày 08/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Khoàng Văn Hặc

2. Ông Nguyễn Văn Hiên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phìn Đại Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện MC, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân huyện MC số: 40/2019/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 9 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2019/QĐ-ST ngày 30/9/2019 đối với bị cáo:

Lò Văn Th (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/8/1972, tại huyện MC, tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 1, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Ph, sinh năm 1944 và bà Lò Thị Kh, sinh năm: 1945 (đã chết); vợ: Lò Thị L ( tên gọi khác Mào Thị L), sinh năm 1973; bị cáo có 03 người con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lay xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện MC xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 20/01/2015 chấp hành xong hình phạt; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2019, tạm giam ngày 09/6/2019.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Phùng Việt H. Luật sư, Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/6/2019, Lò Văn Th đi bộ từ nhà xuống khu vực suối Nậm Chim thuộc bản HH, xã NS, huyện MC và gặp một người đàn ông, qua trao đổi Th đã mua của người này 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine, khi mua không cân khối lượng, không đếm có bao nhiêu viên Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy, Th mang về nhà cất giấu ở đống gỗ dưới sàn nhà. Sáng ngày 03/6/2019, Th lấy số ma túy trên ra chia thành nhiều gói nhỏ, gói bằng các mảnh nilon màu khác nhau và mảnh giấy bạc, Th không nhớ đã chia thành bao nhiêu gói. Sau khi chia xong, Th cất số ma túy vào đống gỗ, hàng ngày đều lấy ra sử dụng. Sáng ngày 05/6/2019, khi đang ở nhà có hai người đàn ông đến nhà Th hỏi mua ma túy, Th đã bán cho một người 02 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine giá 260.000 đồng, còn một người 01 gói heroine và 01 gói Methamphetamine giá 200.000 đồng. Khoảng 07 giờ ngày 06/6/2019 hai người đàn ông đã mua ma túy của Th ngày 05/6/2019 đến nhà Th tiếp tục hỏi mua ma túy, Th đã bán cho mỗi người 01 gói heroine và 01 gói Methamphetamine, mỗi người 200.000 đồng. Sau khi bán xong ma túy, Th lấy 01 gói Heroine ra ngồi ở gầm sàn để sử dụng. Khoảng 8 giờ 20 phút cùng ngày, khi vừa sử dụng xong thì phát hiện thấy tổ công tác, Th đã bỏ chạy lên khu đồi gần nhà, tổ công tác giữ được Th, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm 01 chiếc lọ nhựa bên trong có 10 gói Heroine và 07 gói Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định xác định: 07 gói có các viên nén màu hồng có khối lượng 1,9 gam, 10 gói chất bột nén màu trắng đục có khối lượng 2,251 gam.

Tại bản Kết luận giám định số: 611/GĐ-PC09, ngày 18/6/2019, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “ mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Th gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Th gửi giám định là chất ma túy: loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn Th gồm 2,251 gam chất bột nén màu trắng và 1,9 gam viên nén màu hồng.

Tại Bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS-MC ngày 21/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân, huyện MC, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 2,163 gam Heroine và 1,45 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ mẫu giám định, tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 860.000 đồng do phạm tội mà có, trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm hình sự cho bị cáo Lò Văn Th.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện MC đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo: Do bị cáo là người dân tộc, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn; mới học hết lớp 3/12 nên trình độ và nhận thức có phần hạn chế, có một con bị tàn tật, vợ thường xuyên ốm đau, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo có bố vợ là ông Mào Văn Kh được tặng kỷ niệm chương Cựu chiến binh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị là 05 năm tù để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội và xem xét miễn án phí và hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. HĐXX thấy rằng lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng và kết quả giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC, tỉnh Điện Biên thu thập trong quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp số tiền của bị cáo bị thu giữ do bán ma túy mà có. Hồi 08 giờ 20 phút ngày 06/6/2019, tại khu vực tổ dân phố số 01, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên, Lò Văn Th đã có hành vi mua bán trái phép 2,251 gam Heroine và 1,9 gam Methamphetamine. HĐXX thấy rằng hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn Th là nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy " quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do pháp luật quy định. Hành vi mua bán 2,251 gam Heroine và 1,9 gam Methamphetamine của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện MC truy tố và kết luận bị cáo phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan, sai. Về tội danh và khung hình phạt người bào chữa cho bị cáo đồng thuận và không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát.

2. Xét về tính chất của vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình hình tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, mặc dù cơ quan pháp luật đã truy quét và xử lý nghiêm minh đối với các loại tội phạm này. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bị cáo biết việc Nhà nước cấm tất cả các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe và kinh tế của người sử dụng, nhưng để có tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để bán kiếm lời, hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện MC và góp phần làm cho ma túy tồn tại và phát triển.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã hai lần bị kết án về các tội phạm liên quan đến ma túy, tuy đã được xóa tích, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bởi vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ, hậu quả của do bị cáo phạm tội gây ra, để cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân. Bởi vậy hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thông qua đó thể hiện chính sách khoan hồng, giảm nhẹ của pháp luật đối với người phạm tội.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhận chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án (biên bản xác minh thu nhập, tài sản) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập từ làm ruộng, nương, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS và xem các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51/BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sư sơ thẩm đối với bị cáo. HĐXX thấy rằng đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên cần chấp nhận một phần để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

3. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện MC, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân nhân huyện MC; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng với qui định của pháp luật.

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS

- 2,163 gam Heroine và 1,45 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với số tiền 860.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 01 điện thoại di động hãng Masstel đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

5. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Th do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Lời khai của Lò Văn Th thể hiện từ ngày 05/6/2019 đến ngày 06/6/2019 Th đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho hai người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nhưng ngoài lời khai của Th không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh, Viện kiểm sát không truy tố nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Th và 02 người đàn ông đã mua ma túy của Th, do Th không biết rõ họ tên, địa chỉ của người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ (06/06/2019).

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu để tiêu hủy 2,163 gam Heroine và 1,45 gam Methamphetamine. Đã được niêm phong.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 860.000 (tám trăm sáu mươi nghìn) đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành. Đã được niêm phong.

- Trả bị cáo 01 điện thoại di động hãng Masstel màu xanh, bàn phím màu đen đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện MC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện MC, tỉnh Điện Biên ngày 22/8/2019).

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với Lò Văn Th

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lò Văn Th có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/10/2019).

Cỡ chữ