vanban.org

Bản án 40/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 25/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L và Ngô Văn S đồng phạm tội “ Đánh bạc”

Về hình phạt chính: * Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L và Ngô Văn S đồng phạm tội “ Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HS-ST
Ngày: 25-10-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Ngọc Trứ

2. Ông Đoàn Văn Phồi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà: Trần Thị Thảo Vân, kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 25 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2019, đối với các bị cáo.

1/ Nguyễn Thành T, Sinh năm 1994 tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 312XXXXXX; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Thành N, sinh năm 1970; Con bà: Hoàng Thị Thu E, sinh năm 1970; Vợ: Ung Thị Thanh T, sinh năm 1996; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ ngày 08/4/2019; Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2019. (Có mặt)

2/ Võ Thanh TT, Sinh năm 1983, tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 311707685; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Giới tính: Nam; Con ông: Võ Văn T, sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; Con: Võ Nguyễn Thanh T, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ ngày 08/4/2019; Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2019. (Có mặt)

3/ Nguyễn Chí L, Sinh năm 1987 tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số: 311XXXVVV; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1936 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1945 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ ngày 08/4/2019; Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2019. (Có mặt)

4/ Ngô Văn S, Sinh năm 1988, tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân số:; Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12; Giới tính: Nam; Cha: Ngô Văn P, sinh năm 1951; Mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1951; Vợ: Phan Thị Q, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ ngày 08/4/2019; Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2019. (Có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/. Ung Thị T, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

2/. Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

*Người làm chứng:

Ông: Ung Văn T, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các TT liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 08/4/2019 Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L đến nhà Nguyễn Thành T ngụ ấp A, xã B, thị xã C chơi. Trong lúc nói chuyện TT rủ T, L chơi đánh bài thì cả ba đồng ý nên TT lấy 01 bộ bài tây 52 lá có sẳn rồi đến khu vực nhà sau để chơi đánh bạc, trước khi chơi cả ba giao kèo đánh bài đếm nút 03 lá được thắng thua bằng tiền từ 50.000đ đến 100.000đ, làm cái xoay vòng theo hình thức thắng thì làm cái tiếp nếu thua thì giao cho người bên cạnh theo chiều kim đồng hồ. Khi chơi được vài ván bài thì Ngô Văn S đến chơi thấy T, L, TT đánh bạc nên vào cùng đánh bài, lúc này có Ung Thị T, Nguyễn Thị Lệ H đến xem và đặt ké tiền vào các tụ chơi chính của T, L, TT và S, số tiền cá cược cũng từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, còn Nguyễn Thị Phương T ngồi xem, chơi được 01 bàn thì Ung Thị T và Hồng thua cược nên nghỉ, đến ván bài thứ 02 do T làm cái chuẩn bị chia bài thì bị Công an thị xã Cai Lậy phát hiện bắt quả tang TT, L, T và S đang đánh bài trái phép ăn thua bằng tiền cùng vật chứng trong vụ án gồm:

- Thu giữ trên chiếu bạc:

+ Tiền Việt Nam 8.250.000 đồng;

+ 01 bộ bài tây 52 lá.

- Số tiền thu giữ gần nơi chiếu bạc 1.400.000đ

- Thu giữ trong người các đối tượng:

1. Võ Thanh TT: tiền Việt Nam 14.500.000 đồng; 01 diện thoại di động Nokia 6300;

2. Nguyễn Chí L: tiền Việt Nam 5.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 điện thoại Samsung A9;

3. Ngô Văn S: tiền Việt Nam 6.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen;

4. Nguyễn Thành T: tiền Việt Nam 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ;

5. Nguyễn Thị Lệ H: tiền Việt Nam 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung;

6. Nguyễn Thị Phương T: tiền Việt Nam 4.500.000 đồng; 01 điện thoại Iphone Xmax màu vàng;

7. Ung Thị T: tiền Việt Nam 6.500.000 đồng; 01 điện thoại Iphone Xmax màu vàng.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại TT sản cho chủ sở hữu gồm:

1. Võ Thanh TT: tiền Việt Nam 14.500.000 đồng; 01 diện thoại di động Nokia 6300;

2. Nguyễn Chí L: 01 điện thoại di động Nokia màu đen; tiền Việt Nam 5.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung A9;

3. Ngô Văn S: 01 điện thoại di động Nokia màu đen; tiền Việt Nam 6.500.000 đồng;

4. Nguyễn Thành T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ; tiền Việt Nam 2.000.000 đồng;

5. Nguyễn Thị Lệ H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung; tiền Việt Nam 30.000.000 đồng;

6. Nguyễn Thị Phương T: 01 điện thoại Iphone Xmax màu vàng; tiền Việt Nam 4.500.000 đồng;

7. Ung Thị T: 01 điện thoại Iphone Xmax màu vàng; tiền Việt Nam 6.500.000 đồng.

Cáo trạng số 40 ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Thành T, Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L và Ngô Văn S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” và xử phạt các bị cáo:

1/ Nguyễn Thành T từ 09-12 tháng tù;

2/ Võ Thanh TT từ 06-09 tháng tù;

3/ Nguyễn Chí L từ 06-09 tháng tù;

4/ Ngô Văn S từ 06-09 tháng tù;

Về vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật TTHS.

Đề nghị tuyên sung quỹ Nhà nước số tiền 8.250.000đ thu trên chiếu bạc, và 1.400.000đ thu gần chiếu bạc, bộ bài thì tiêu hủy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, kính xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để về chăm sóc gia đình và nuôi dạy con nhỏ.

Căn cứ vào các chứng cứ và TT liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Xét thấy, trong giai đoạn điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của những người này vẫn không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại khoản 1 của Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đó là: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 08/4/2019 Nguyễn Chí L, Võ Thanh TT, Nguyễn Thành T và Ngô Văn S cùng chơi đánh bạc dưới hình thức chơi bài tây 03 lá điếm nút với mức độ ăn thua từ 50.000đ đến 100.000đ, địa điểm tại nhà của Nguyễn Thành T ngụ ấp A, xã B, thị xã C thì bị Công an thị xã Cai Lậy bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc với tổng số tiền là 8.250.000đ. Cho nên có đủ cơ sở quy kết các bị cáo đã đồng phạm vào tội “Đánh bạc” Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Thời gian qua trên địa bàn thị xã Cai Lậy đã liên tiếp xảy ra tình trạng thanh thiếu niên tụ tập tổ chức đánh bạc với nhiều hình thức thắng thua bằng tiền. Mặc dù các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương đề ra nhiều giải pháp nhầm ngăn chặn, hạn chế loại tội phạm này nhưng vẫn không giảm. Do đó phải được xử lý nghiêm minh và kịp thời vì đây là một tệ nạn của xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Đối với các bị cáo chỉ vì mục đích hám lợi nên đã bất chấp thực hiện việc đánh bạc thắng thua bằng tiền giữa ban ngày ngay tại quán bán nước giải khát của gia đình bị cáo TT. Hành vi này không những trực tiếp xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Cho nên phải được xử lý nghiêm khắc mới có tính răn đe đối vớc các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do vụ án có nhiều bị cáo tham gia, vai trò có khác nhau, để việc cá thể hóa hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo. Xét thấy.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có tổ chức hay phân công nhiệm vụ, cả 04 bị cáo đều giữ vai trò là người thực hành cùng tham gia thực hiện tội phạm. Trong đó Nguyễn Thành T là người chủ động khởi xướng và cung cấp bộ bài để đánh bạc, tham gia xuyên suốt, kế tiếp là Nguyễn Thanh T và Nguyễn Chí L tham gia rất tích cực cũng xuyên suốt từ đầu cho đến khi bị công an phát hiện và bắt quả tang. Đối với Ngô Văn S sau khi đến nhà TT thì gặp TT, T và L đang đánh bạc nên vào cùng tham gia ngay mà không sợ bị phát hiện, chứng tỏ các bị cáo rất xem thường pháp luật và cố ý thực hiện.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại tòa khi nói lời nói sau cùng tất cả đều tỏ ra ăn năn hối cải, hiện có con còn nhỏ tuổi. Ngoài ra gia đình các bị cáo có công với cách mạng, trong đó Võ Thanh TT có ông nội ruột là Liệt sĩ, Nguyễn Chí L có Ba và mẹ ruột được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, và Huân chương kháng chiến hạng nhất, Ngô Văn S có cha ruột là thương binh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Sau khi xem xét đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi do các bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cả 04 bị cáo đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, lý lịch rõ ràng nên có xem xét chiếu cố giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời nghĩ không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về cho chính quyền địa giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Ngoài hình phạt tù bị cáo Nguyễn Thành T còn phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền mới có tác dụng ngăn ngừa việc tái phạm. Đối với các bị cáo còn lại do thuộc thành phần nông dân lao động, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung.

Đối với Ung Thị T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi ké vào tụ bài của các bị cáo, tại thời điểm bắt quả tang thì Trđã nghỉ và số tiền thu trên chiếu bạc không có tiền của Trnên không đủ căn cứ quy kết Tr phạm tội đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với Tr xong. Nguyễn Thị Lệ H có hành vi cầm trên tay 600.000đ để đánh bạc trái phép dưới hình thức ké tiền vào các tụ bài chính, khi Công an thị xã Cai Lậy bắt quả tang thì H ném số tiền 600.000đ gần nơi chiếu bạc. Hiện tại H đã bỏ địa phương đi không rỏ lý do. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy không thể điều tra làm rõ hành vi đánh bạc của H và tiếp tục điều tra xử lý sau. Riêng Nguyễn Thị Phương T có xem đánh bạc nhưng không tham gia nên không có dấu hiệu tội phạm. Xét thấy cũng phù hợp nghĩ nên ghi nhận.

Về vật chứng:

Đối với số tiền thu trên chiếu bạc do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, cũng như số tiền 1.400.000đ thu giữ gần nơi chiếu bạc không xác định được chủ sở hữu, cho nên phải tịch thu sung quỹ. Riêng bộ bài thì tịch thu tiêu hủy.

Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở. Tuy nhiên do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và phần lớn gia đình đều có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án và chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L và Ngô Văn S đồng phạm tội “ Đánh bạc”

Về hình phạt chính:

* Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án.

* Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao.

- Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh TT 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.

- Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn S 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Thành T, Võ Thanh TT, Nguyễn Chí L và Ngô Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hòa, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền là 10.000.000đ. Nộp một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài 52 lá.

+ Tuyên tịch thu sung vào quỹ Nhà nước số tiền 9.650.000đ ( Tiền thu trên chiếu bạc là 8.250.000đ và tiền thu giữ gần nơi chiếu bạc là 1.400.000đ).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy).

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

( Án tuyên công khai lúc 08 giờ 45 phút ngày 25/10/2019).

Cỡ chữ