vanban.org

Bản án 40/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Thào Lao M phạm tội: Hủy hoại rừng.

Giao bị cáo Thào Lao M cho Ủy ban nhân dân xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Lao M - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Thào Lao M phạm tội: Hủy hoại rừng.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HS-ST
Ngày 30 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Sửu, bà Lò Thị Le

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HS ngày 19/9/2019 đối với bị cáo:

Thào Lao M, sinh năm 1977; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản C, xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thào Lao D và bà Thào Thị D (Đều đã chết), vợ Thào Thị D, sinh năm 1977 và 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2019 đến nay có mặt.

- Bị hại: Cộng đồng bản K, xã Mường Lựm, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

Người đại diện: Ông Thào Lao D – chức vụ: Trưởng bản; địa chỉ: Bản K Khoang, xã Mường Lựm, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo có bà Cầm Kim Loan – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thào Lao M mặc dù biết khu khu rừng phòng hộ đầu nguồn do Cộng đồng bản Khấu Khoang, xã Mường Lựm, huyện Yên Châu quản lý là rừng cấm nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu đất để sản xuất canh tác, từ giữa tháng 02/2019 Thào Lao M một mình đến khu rừng chặt phá để làm nương canh tác, dùng dao quắm và cưa máy chặt phá rừng trong thời gian 02 ngày. Ngày thứ nhất Thào Lao M dùng dao quắm chặt phá cây nhỏ, dây leo và cỏ dại, ngày thứ hai Thào Lao Ma dùng cưa máy cưa các cây gỗ tạp có đường kính gốc từ 10 cm đến 30 cm, chiều dài thân cây từ 05m đến 09m, số cây gỗ và cỏ dại Thào Lao M để nguyên tại chỗ với mục đích để khô rồi đốt lấy đất làm nương, chưa kịp đốt thì phát hiện lập biên bản.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao quắm chiều dài 75cm, cán bằng gỗ; 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK 5280.

Ngày 19/4/2019 Hạt kiểm lâm phối hợp Viện kiểm sát, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu cùng chính quyền địa phương đến khu rừng do Thào Lao Ma chặt phá, bằng phần mềm FRMS – Mobile xác định rừng thiệt hại gồm các lô 2 và lô 7, khoảnh 1, tiểu khu 878 xã Mường Lựm, huyện Yên Châu; diện tích bị chặt phá là 4.690m2, loại rừng bị thiệt hại: theo nguồn gốc rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh phục hồi, loại rừng phòng hộ đầu nguồn của Cộng đồng bản Khấu Khoang, xã Mường Lựm; số Lâm sản bị thiệt hại xác định là các cây gỗ tạp từ nhóm V đến nhóm VIII, gồm 87 cây có khối lượng 8,783m3.

Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Châu số 46/KL ngày 18/6/2019 kết luận: 8,783m3 gỗ tạp nhóm V đến nhóm VIII tại thời điểm tháng 02/2019 do Thào Lao Ma chặt phá có giá trị 8.783.000 đồng.

Quá trình điều tra xét thấy hành vi chặt phá 4.690m2 rừng phòng hộ của Thào Lao Ma để làm nương canh tác đã vượt quá mức tối đa xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại điểm c khoản 5 Điều 20 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ; Nghị định số 40/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Bản cáo trạng số 41/CT-VKSYC ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Thào Lao M về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thào Lao M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Hủy hoại rừng” nên kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố theo cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Thào Lao M từ 15 tháng đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 30 tháng đến 40 tháng.

Không đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về rừng với số tiền 8.783.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước, nhưng được khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại cơ quan Thi hành án huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai số AA/2016/0002295 ngày 30/9/2019.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cưa máy nhãn hiệu MOTOKAWA MK 5280 dài 1,07m, kích thước 43cmx25cm (máy cũ đã qua sử dụng).

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm dài 75cm, cán dao bằng gỗ đường kính 2,5cm x 41cm, chuôi dao bằng kim loại dài 8cm..

Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo đọc bản luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 15 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo Thào Lao M thống nhất với luận cứ bào chữa, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, do hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo của xã.

Ý kiến của đại diện Cộng đồng bản K về hành vi của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu đề nghị Tòa án xét xử đúng pháp luật, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại để sung công quỹ Nhà nước.

Lời nói sau cùng bị cáo đã thấy sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Hạt kiểm lâm, Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Thào Lao M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào giữa tháng 02/2019 Thào Lao M đã vào khu rừng Chua Đá thuộc lô 2 và lô 7, khoảnh 1, tiểu khu 878 của Cộng đồng bản Khấu Khoang, xã Mường Lựm, huyện Yên Châu thực hiện hành vi phá rừng để canh tác sản xuất với diện tích 4.690m2, gây thiệt hại 8,783m3 gỗ có giá trị 8.783.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

3 Tính chất, mức độ, hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã thể hiện xem thường pháp luật của bị cáo, nên mặc dù đã biết phá rừng bị Nhà nước nghiêm cấm những vẫn cứ làm, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường cũng như trật tự quản lý kinh tế ở địa phương, nên cần có mức án nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội và làm gương cho những người khác. Nhưng xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, do hoàn cảnh khó khăn nên phá rừng để canh tác sản xuất, tăng thêm thu nhập cho gia đình, thật thà khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho Cộng đồng bản với số tiền 562.800 đồng và khắc phục một phần thiệt hại với số tiền 2.000.000 đồng, đại diện bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo phạm tội do điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo có nơi cư trú ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, cũng đảm bảo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, là phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát cũng như quan điểm bào chữa của bị cáo tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, xét bị cáo không có khả năng thi hành và phải bồi thường cho Nhà nước nên không áp dụng với bị cáo là phù hợp.

4 Về bồi thường thiệt hại: Diện tích lâm sản thiệt hại 8.783.000 đồng, bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 2.000.000 đồng, sẽ được khấu trừ, số còn lại 6.783.000 đồng, đại diện Cộng đồng bản ông Thào Lao D yêu cầu tiếp tục bồi thường cho Nhà nước, xét yêu cầu của đại diện bị hại là phù hợp cần chấp nhận.

5 Về vật chứng: 01 con dao quắm và 01 máy cưa cầm tay là dụng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội. Xét thấy: Đối với 01 con dao quắm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 máy cưa máy cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

6 Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã đặc biệt khó khăn của huyện Yên Châu, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội , nên miễn nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

1/ Tuyên bố bị cáo Thào Lao M phạm tội: Hủy hoại rừng. Xử phạt bị cáo Thào Lao M 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30/9/2019).

Giao bị cáo Thào Lao M cho Ủy ban nhân dân xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 8.783.000đ (Tám triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ 2.000.000đ (Hai triệu đồng) do bị cáo đã nộp theo biên lại số AA/2016/0002295 ngày 30/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Châu. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp 6.783.000đ (Sáu triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng với số tiền 562.800đ (Năm trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm đồng).

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm có chiều dài 75cm, cán dao bằng gỗ tròn đường kính 2,5cm dài 41cm, chuôi dao bằng kim loại dài 8cm, lưỡi dao dài 26cm, phần mũi dao bị mẻ nham nhở (Đã qua sử dụng).

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK 5280 dài 1,07m, đầu máy kích thước 43cm x 25cm, phần lưỡi cưa dài 66cm, bản rộng 13cm (Máy cũ đã qua sử dụng).

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quố c hộ i , miễn nộp án phí hình sự và án phí dân sự đối với bị cáo.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30/9/2019).

Cỡ chữ