vanban.org

Bản án 40/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2019. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HS-ST
Ngày 24-7-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Lịch;

Ông Lê Văn Viện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện VKS nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

- Nguyễn Xuân M, sinh ngày 17/10/1989; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm 4, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1964; con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Chị Trần Thị Hương G, sinh năm 1988; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 29/5/2019 đến ngày 01/6/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực (có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1970; cư trú tại: Xóm 7, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt);

- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1975; cư trú tại: Xóm 4, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 29/5/2019 bị cáo Nguyễn Xuân M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AIR BLADE màu đen, biển kiểm soát 18K1-08114 từ nhà đến khu vực đường T, thành phố N mục đích mua ma túy về sử dụng. Đến nơi bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 300.000 đồng ma túy, người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa cho bị cáo 01 gói nhỏ ma túy gói bằng túi ni lon màu trắng, bị cáo cầm gói ma túy vừa mua được điều khiển xe mô tô đi về theo Quốc lộ 21B đường Đ. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày (29/5/2019) khi về đến trước cửa nhà nghỉ Q thuộc địa phận xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định bị cáo dừng xe để tìm nơi sử dụng, thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định phát hiện, kiểm tra thu giữ trên tay phải của bị cáo 01 túi nhỏ nilon màu trắng bên trong chứa chất rắn, tinh thể màu trắng, bị cáo khai là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an mời người chứng kiến, niêm phong vật chứng (ký hiệu M) và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ma túy lực lượng Công an còn thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu đen và 01 xe máy nhãn hiệu AIR BLADE màu đen, biển kiểm soát 18K1-08114 đều đã cũ.

Tại bản kết luận giám định số: 524/GĐKTHS ngày 30/5/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất tinh thể rắn, màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại chất ma túy Methamphetamine; có khối lượng 0,388gam;

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với 01 xe mô tô bị cáo sử dụng đi mua ma túy, được xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Xuân H bố đẻ của bị cáo. Ông H không biết bị cáo mượn xe để đi thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18K1-08114 cho ông H là có căn cứ.

Cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố Nguyễn Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M từ 12 (muời hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù;

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mua ma túy về sử dụng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong 01 phong bì thư số: 524/GĐKTHS ngày 30/5/2019 của Công an tỉnh Nam định; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã cũ nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án;

- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận, xin lỗi bố mẹ, vợ con và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân M thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 29 tháng 5 năm 2019, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định số: 524/GĐKTHS ngày 30/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 29/5/2019, tại Quốc lộ 21B trước cửa nhà nghỉ Q, thuộc địa phận xóm 6, xã N, huyện N, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang bị cáo cất giấu trái phép 01 (một) gói nhỏ ma túy (Methamphetamine), có trọng lượng là 0,388 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với bị cáo là có căn cứ

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố ý mua về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung, mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, các con còn nhỏ, bản thân nghiện ma túy, mua về để sử dụng không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ nên tách ra điều tra xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số: 524/GĐKTHS ngày 30/5/2019 của Công an tỉnh Nam Định là chất cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ đã cũ được xác định là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân M 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/5/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đỏ đã cũ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2019 giữa cơ quan Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực).

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Xuân M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ