vanban.org

Bản án 40/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngu n Minh T và Sum Ho ng Đăng K về việc xin hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo Ngu n Minh T 07 (bả ) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng bắt bị cáo để thi h nh án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ng 20/7/2018. Xử phạt bị cáo Sum Ho ng Đăng K 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngu n Minh T và Sum Ho ng Đăng K về việc xin hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HS-PT
Ngày 26-02-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Ngọc Thạch;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: B Ngu n Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: B Ngu n Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo Ngu n Minh T, Sum Ho ng Đăng K. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B.

Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:

1. Ngu n Minh T, sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: Xóm A, xã N, hu ện N, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngu n Minh T1, sinh năm 1962 và bà Ngu n Thị D, sinh năm 1964; có vợ l Trần Thị Kiều T2, sinh năm 1991 v 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ng 16/7/2018 đến ng 20/7/2018 được tại ngoại cho đến na ; có mặt tại phiên tòa.

2. Sum Ho ng Đăng K, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Phước; nơi thường trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; nơi tạm trú: Khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sum Hoàng S, sinh năm 1956 và bà Ngu n Thị D1, sinh năm 1960; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ng 16/7/2018 đến ng 20/7/2018 được tại ngoại cho đến na ; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 15/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B phối hợp với Công an phường T kiểm tra h nh chính tại nh ông Dương Thanh N thuộc địa chỉ: Đường N, khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì Ngu n Minh T đang có mặt tại đâ . Qua kiểm tra phát hiện điện thoại di động hiệu Iphone 6 m u v ng gắn sim số 09659131X chứa nội dung tin nhắn cá cược bóng đá thắng thua bằng tiền với Sum Ho ng Đăng K, Ngu n Ngọc V v Ngu n Văn H. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B mời K, V, Hải đến l m việc v thu giữ của Ngu n Minh T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6; thu giữ của Sum Ho ng Đăng K 01 điện thoại di động hiệu ITEL màu đen; thu giữ của Ngu n Ngọc V 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 m u đen và thu giữ của Ngu n Văn H 01 điện thoại di động hiệu Oppo m u xanh đen.

Quá trình điều tra, Ngu n Minh T, Sum Ho ng Đăng K, Ngu n Ngọc V, Ngu n Văn H khai nhận: T quen biết K, V, H do cùng làm chung công t , ở chung khu nh trọ. T nhận cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền trong giải bóng đá Worldcup 2018, giải vô địch quốc gia Đan Mạch đang di n ra. T thoả thuận gửi kèo các trận đấu bóng đá cho K, V, H để cá độ thắng thua bằng tiền với nhau cụ thể như sau:

1. Trận đấu bóng đá giải vô địch quốc gia Đan Mạch giữa đội ODENSE BK gặp đội VENDRYRREL. T nhắn tin gửi kèo với nội dung “ODENSE. 1/2 d75. Tx 1.1/4L” nghĩa l ODSENSE l đội mạnh chấp đội VENDRYRREL ½ b n thắng. Nếu chọn ODSENSE thắng 75% số tiền đặt cược, nếu chọn đội VENDRYRREL thắng 100%. Đến 21 giờ 43 phút, K đồng ý chọn đội ODENSE BK đặt cược với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng. Kết quả hiệp 2 đội ODENSE BK thua VENDRYRREL với tỷ số 2 - 3 nên K thua. Như vậy, số tiền dùng để đánh bạc trong trận này của Nguy n Minh T là 10.000.000 (mười triệu) đồng, của Sum Ho ng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng.

2. Trận đấu Worldcup 2018 giữa đội Pháp và đội Croatia di n ra vào lúc 22 giờ ng 15/7/2018. Trước khi trận đấu di n ra, Nguy n Minh T nhắn tin gửi kèo cho Sum Ho ng Đăng K, Nguy n Văn H, Nguy n Ngọc V với nội dung “Pháp 1/2 d80, Tx 2 x80, H1 1/4 d70 TX 3/4 X80” thì K, V, Hải đồng ý cá cược như sau: Lúc 21 giờ 52 phút cùng ngày, K nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược là 5.000.000 (năm triệu) đồng; lúc 20 giờ 24 phút cùng ngày, V nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, chọn xỉu với số tiền đặt cược 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; lúc 20 giờ 24 phút cùng ngày, H nhắn tin chọn đội Pháp thắng với số tiền đặt cược 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Do trận đấu chưa di n ra nên số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguy n Minh T là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, Sum Ho ng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng, Nguy n Ngọc V là 3.000.000 (ba triệu) đồng, Nguy n Văn H là 4.000.000 (bốn triệu) đồng.

Qua kiểm tra điện thoại của Nguy n Ngọc V phát hiện ngày 14/7/2018, Nguy n Minh T gửi kèo cá cược trận đội tuyển Anh và đội tuyển Bỉ di n ra vào lúc 21 giờ ngày 14/7/2018 với tỷ lệ kèo hiệp 2 tài xỉu l “1.3/4 x 80” nghĩa l tổng số bàn thắng hiệp 2 lớn hơn hoặc bằng 02 bàn thắng l t i, dưới 02 bàn thắng là xỉu, chọn xỉu thắng 80% số tiền đặt cược, chọn tài thắng 90% số tiền đặt cược. V chọn xỉu hiệp 2 với số tiền đặt cược là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Kết quả trận đấu với tỷ số hiệp 2 giữa Anh và Bỉ là 0 - 1 nên V thắng 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng chưa giao tiền thắng thua. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguy n Minh T là 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, của Nguy n Ngọc V là 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Ngày 15/7/2018, Nguy n Minh T còn cá độ trận giữa đội Pháp và đội Croatia với người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0129.30708Y với số tiền đặt cược là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Ngày 15/8/2018, Sum Ho ng Đăng K còn cá độ với đối tượng N (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0123.92959Z đặt cược trận giữa đội tuyển Pháp và đội tuyển Croatia với số tiền đặt cược là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.

Đối với Đ, N (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B đang điều tra, xử lý.

Ng 29/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B xử lý h nh chính phạt tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về h nh vi đánh bạc đối với Ngu n Ngọc V và Ngu n Văn H.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B đã qu ết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Tu ên bố các bị cáo Ngu n Minh T và Sum Ho ng Đăng K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Ngu n Minh T 07 (bả ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng bắt bị cáo để thi h nh án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 20/7/2018.

Xử phạt bị cáo Sum Ho ng Đăng K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng bắt bị cáo để thi h nh án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ng 20/7/2018.

Ngo i ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tu ên về biện pháp tư pháp, án phí và qu ền kháng cáo theo qu định của pháp luật.

Ngày 27/11/2018, các bị cáo Ngu n Minh T, Sum Ho ng Đăng K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tội danh, điều luật m Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo T cung cấp thêm tình tiết bị cáo có ông nội l ông Ngu n Minh C là người có công với cách mạng, l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với tình tiết các bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo l chưa đúng qu định của pháp luật, vì các bị cáo phạm tội nhiều lần. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ r ng, dó đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền l hình phạt chính đối với các bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng đến 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, bị cáo K từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội và giữ ngu ên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Bị cáo K nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, tạo điều kiện cho bị cáo trở th nh công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo có ho n cảnh khó khăn, có con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải qu ết theo qu định của pháp luật.

. Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của các bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 15/7/2018, tại nh của ông Dương Thanh N thuộc khu phố X, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Ngu n Minh T đã có hành vi cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền 02 trận đấu: Trận đấu bóng đá giải vô địch quốc gia Đan Mạch giữa đội ODENSE BK và đội VENDRYRREL, T cá độ với Sum Ho ng Đăng K. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu n của Ngu n Minh T là 10.000.000 (mười triệu) đồng, Sum Ho ng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Trận đấu Worldcup 2018 giữa đội Pháp và đội Croatia, T cá độ với Sum Ho ng Đăng K, Nguy n Ngọc V, Nguy n Văn H. Số tiền dùng để đánh bạc trong trận đấu này của Nguy n Minh T là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, Sum Ho ng Đăng K là 5.000.000 (năm triệu) đồng, Nguy n Ngọc V là 3.000.000 (ba triệu) đồng, Nguy n Văn H là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Tổng số tiền bị cáo T cá độ bóng đá l 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng và bị cáo K là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

. H nh vi của các bị cáo l ngu hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được h nh vi đánh bạc với hình thức cá độ bóng đá sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật v bất chấp hậu quả. Các bị cáo có đầ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về h nh vi phạm tội của mình theo qu định của pháp luật. Như vậ , Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) l có căn cứ, đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấ : Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo T cung cấp thêm tình tiết bị cáo có ông nội l ông Ngu n Minh C l người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qu định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự n đối với các bị cáo l chưa đúng qu định của pháp luật vì các bị cáo phạm tội nhiều lần.

Căn cứ v o tính chất, mức độ h nh vi phạm tội v vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấ : Bị cáo K sử dụng số tiền đánh bạc không lớn v chỉ có vai trò l người tham gia đánh bạc, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ở việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo l nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấ , không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo K, chu ển hình phạt tù th nh hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo K. Do không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo K nên Hội đồng xét xử không xem xét êu cầu kháng cáo xin hưởng án treo đối với bị cáo K.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấ : Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên, bị cáo T đánh bạc 02 lần với số tiền lớn, đồng thời bị cáo có vai trò l người khởi xướng, rủ rê những người khác tham gia cá độ bóng đá v trực tiếp nhận kèo v thỏa thuận với những người đặt kèo cá độ bóng đá. Do đó, bị cáo T không đủ điều kiện hưởng án treo theo qu định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị qu ết số 02/2018/NQ-HĐTP ng 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, việc bị cáo không chấp h nh hình phạt tù sẽ gâ ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương, đặc biệt l tội phạm đánh bạc đang gia tăng tại các khu dân cư trên địa bàn thị xã B nói riêng v tỉnh Bình Dương nói chung. Như vậ , cần thiết phải cách l bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo v góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hình phạt tù đối với bị cáo T l phù hợp, kháng cáo của bị cáo T về việc xin được hưởng án treo l không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc áp dụng hình phạt chính l hình phạt tiền đối với bị cáo K là phù hợp, đối với đề nghị áp dụng hình phạt chính l hình phạt tiền đối với bị cáo T l chưa phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Vào ngày 15/7/2018, bị cáo T sử dụng số tiền 17.000.000 (mười bả triệu) đồng để đánh bạc, bị cáo K sử dụng số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để đánh bạc v ông Ngu n Ngọc V sử dụng số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng, ông Ngu n Văn H sử dụng số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng để đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc các bị cáo, ông Ngu n Ngọc V và ông Ngu n Văn H nộp lại số tiền đánh bạc l không đúng qu định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) v điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần buộc các bị cáo, ông Ngu n Ngọc V và ông Ngu n Văn H nộp lại số tiền nêu trên để tịch thu sung vào ngân sách Nh nước.

. Các phần qu ết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ng hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do Tòa án cấp sơ thẩm sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo K nên bị cáo K không phải chịu,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngu n Minh T và Sum Ho ng Đăng K về việc xin hưởng án treo. Giữ ngu ên Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B đối với bị cáo T. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2018/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã B về hình phạt đối với bị cáo K.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 v khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Ngu n Minh T 07 (bả ) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng bắt bị cáo để thi h nh án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ng 20/7/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 v Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Sum Ho ng Đăng K 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) v Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Ngu n Minh T nộp lại số tiền 17.000.000 (mười bả triệu) đồng, bị cáo Sum Hoàng Đăng K nộp lại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, ông Ngu n Ngọc V nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng v ông Ngu n Văn H nộp lại số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 98; khoản 1 v khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngu n Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, bị cáo Sum Ho ng Đăng K không phải nộp.

4. Các qu ết định khác của bản án sơ thẩm về án phí, về xử lý vật chứng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ng hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng tu ên án./.

Cỡ chữ