vanban.org

Bản án 40/2019/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Xuân L Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Xuân L được ly hôn với chị Phan Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Luật + Hương"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 11 - 2019
V/v: “Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Mẫn và bà Nguyễn Thị Hoài Bão

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 267/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 10/10/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 29/2019/QĐST – HNGĐ ngày 29/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Cao Xuân L; sinh năm 1977 (có mặt)

- Bị đơn: Chị Phan Thị H; sinh năm 1988 (vắng mặt)

Cùng trú tại địa chỉ: tổ A, thôn B, xã E K, huyện C M, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Cao Xuân L trình bày:

Tôi và chị Phan Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 17/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian sinh sống trước đây rất hạnh phúc cho đến cách đây 3 năm vợ chồng chúng tôi thường xuyên cãi nhau và không hợp nhau về cách sống, do kinh tế khó khăn nên chúng tôi thường bất hòa với nhau, chúng tôi không thể chung sống với nhau được nữa nên chúng tôi quyết định ly hôn với nhau và đã thống nhất ký vào đơn ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009, hiện nay các cháu đang ở với tôi. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu chị Phan Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn chị Phan Thị H:

Tôi và anh Cao Xuân L có đăng ký kết hôn vào ngày vào ngày 17/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Thời gian mới kết hôn chúng tôi sống rất hạnh phúc. Sau mấy năm gần đây chúng tôi thường xảy ra mâu mẫu, cãi nhau và chúng tôi thấy không hợp với nhau nữa về cách sống của nhau cũng như nhiều lý do khác. Chúng tôi bất hòa với nhau quá nhiều nên chúng tôi đã thỏa thuận ly hôn với nhau và đã ký vào đơn ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009, hiện nay các cháu đang ở với anh L. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Cao Phan Toàn Đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cho anh Cao Xuân L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Cao Thị Tố U cho đến khi cháu U đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tôi không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Cao Xuân L vẫn giữ nguyên yêu cầu tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị H và có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng anh L không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung anh L không yêu cầu tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Đối với Thẩm Phán: đã thực hiện đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.

Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với đương sự:

Đối với nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Xuân L; Tuyên bố anh Cao Xuân L được ly hôn với chị Phan Thị H. Giao cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009 cho anh Cao Xuân L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Phan Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Cao Xuân L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền Tòa án:

Anh Cao Xuân L yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị H nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Chị Phan Thị H đang trú tại xã E K, huyện C M, tỉnh Đăk Lăk. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng chị Phan Thị H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 17/02/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống từ 03 năm trở lại đây giữa anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng, đời sống chung không hạnh phúc. Anh Cao Xuân L yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị H, xét yêu cầu của anh Cao Xuân L là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H cũng đã khai nhận là tình cảm giữa vợ chồng anh chị không còn và chị H cũng đã thống nhất ký vào đơn đồng ý ly hôn.

Như vậy có thể thấy, hôn nhân giữa anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh Cao Xuân L yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị H là chính đáng cần được chấp nhận.

Về con chung: Anh Cao Xuân Lvà chị Phan Thị H có 02 con chung là cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009. Hiện nay các cháu đang ở với anh L và anh L cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung. Tại bản tự khai của cháu Cao Phan Toàn Đ và cháu Cao Thị Tố U thì các cháu có nguyện vọng tiếp tục được ở với anh Luật. Tại bản tự khai và biên bản hòa giải thì chị Hương có nguyện vọng được nuôi cháu Cao Phan Toàn Đ và không yêu cầu anh Lphải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị H hiện nay đi làm ăn tại tỉnh Bình Dương không thường xuyên về nhà, hiện nay các cháu đang được ăn học tại địa phương xã Ea Kuêh, huyện Cư Mgar. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao các cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố Ungày16/08/2019 cho anh Cao Xuân L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nguyện vọng của các cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Cao Xuân L không yêu cầu chị Phan Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con nên không buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Phan Thị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Cao Xuân L và chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Cao Xuân L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng vào các Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Xuân L

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cao Xuân L được ly hôn với chị Phan Thị H.

Về con chung: Giao các cháu Cao Phan Toàn Đ, sinh ngày 24/10/2006 và Cao Thị Tố U, sinh ngày 20/9/2009 cho anh Cao Xuân L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Phan Thị H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Phan Thị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí hôn nhân và gia đình:

Anh Cao Xuân L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà anh Cao Xuân L đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0014146 ngày 02/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ