- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Nga xin ly hôn ông Đinh Hùng"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2019 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NAM HOA
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông NGUYỄN VĂN BẠN
Bà VÕ THỊ BỜI
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà NGUYỄN THỊ THU HIỀN - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa:
Ông LÊ HOÀNG ANH - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 33/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2019/QĐST - HNGĐ ngày 10/6/2019; giữa:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị N - Sinh năm 1980
* Bị đơn: Ông Đinh H - Sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã V, Tp. Nha Trang
Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông H vắng tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bà Lê Thị N trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải:
Tôi và anh Đinh H tự nguyện kết hôn năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND phường V, Tp. Nha Trang. Quá trình chung sống giữa chúng tôi không có hạnh phúc do anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Từ năm 2017 cho đến nay anh H đã chung sống với người phụ nữ đó như vợ chồng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên tôi xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên Đinh Thị N - SN: 01/7/2003 và Đinh Thị Kh - SN: 01/4/2007. Trường hợp Tòa án cho ly hôn tôi xin nuôi hai cháu N và Kh, không yêu cầu anh Hùng đóng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Đinh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn và xem xét các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp theo yêu cầu của bà Lê Thị N được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã triệu tập ông Đinh H hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Tòa án đã làm các thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và đã hoãn phiên Tòa lần thứ nhất do ông H vắng mặt. Tại phiên Tòa hôm nay ông H vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án nhân dân Tp. Nha Trang căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N và ông Đinh H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại UBND phường V, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Qua lời trình bày của bà N cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra đã lâu, cuộc sống chung không thể kéo dài, đời sống hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà N là chính đáng có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Bà Lê Thị N và ông Đinh H có 02 con chung Đinh Thị N - SN: 01/7/2003 và Đinh Thị Kh - SN: 01/4/2007. Sau ly hôn bà N có yêu cầu xin được nuôi con. Mặt khác, lời khai của hai cháu đều có nguyện vọng được ở với bà N. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến tâm lý của con chung nên Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà N nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng cấp dưỡng nuôi con cho ông H do bà N không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị N và ông Đinh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị N phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0010585 ngày 16/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị N được ly hôn ông Đinh H.
2. Giao hai con chung tên Đinh Thị N - SN: 01/7/2003 và Đinh Thị Kh - SN: 01/4/2007 cho bà Lê Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng cấp dưỡng nuôi con cho ông H do bà N không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị N và ông Đinh H nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị N phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0010585 ngày 16/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vậy, bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà; - VKSND TP Nha Trang; - Chi cục THADS TP Nha Trang; - UBND phường V, Nha Trang; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu: án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nam Hoa |