vanban.org

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị Bích H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Bích H và anh Bùi Nguyễn Quang L. Về con chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa Phan Thị Bích H và Bùi Nguyễn Quang L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị Bích H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2019
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Lam.

2. Bà Đặng Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Phan Thị Bích H, sinh năm 1996; địa chỉ: 83, khu 2, ấp H, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Đồng Nai – có mặt.

2. Bị đơn: anh Bùi Nguyễn Quang L, sinh năm 1990; địa chỉ: 142/C3, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/02/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phan Thị Bích H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị H xây dựng gia đình với anh Bùi Nguyễn Quang L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/6/2016. Sau khi kết hôn, chị H về chung sống cùng gia đình anh L được khoảng 03 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, chị H trở về nhà cha mẹ ruột tại huyện Q, tỉnh Đồng Nai sinh sống từ tháng 10/2016 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Anh L chơi bài bạc, còn sử dụng ma túy, nhiều lần phải đi cai nghiện. Chị H nhiều lần khuyên lơn, cho cơ hội nhưng anh L không sữa đổi. Chị H xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn anh L.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Bùi Nguyễn Quang L vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu và ý kiến đã trình bày nêu trên.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng.

- Về việc giải quyết tranh chấp: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H; về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét; chị H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Phan Thị Bích H khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Bùi Nguyễn Quang L có nơi cư trú tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Bùi Nguyễn Quang L đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết tranh chấp của vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Phan Thị Bích H và anh Bùi Nguyễn Quang L tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2016, có đăng ký kết hôn, đáp ứng điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, chị H có đơn xin ly hôn anh L nên Tòa án áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết. Chị H được quyền đơn phương xin ly hôn anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật này. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L xảy ra từ năm 2016, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh L chơi bài bạc, còn sử dụng ma túy, nhiều lần phải đi cai nghiện nên vợ chồng thường xảy ra bất đồng tranh cãi, được chính quyền địa phương nơi chị H và anh L chung sống xác nhận. Chị H nhiều lần tạo điều kiện nhưng anh L không sửa đổi nên từ tháng 10/2016 đến nay, chị H trở về nhà bố mẹ ruột ở, không còn chung sống và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng với anh L. Về phía anh L, anh L không tham gia trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, qua đó thể hiện việc anh L đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân của chính mình. Do vậy, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho ly hôn giữa chị H và anh L.

Về con chung: chị H trình bày không có, phù hợp với thông tin do đại diện Ủy ban nhân dân xã G, huyện Thống Nhất cung cấp theo kết quả xác minh của Tòa án. Do vậy, đủ cơ sở xác định chị H và anh L trong quá trình chung sống không có con chung nên không đặt ra xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H xác định không có. Do anh L vắng mặt, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên không đủ cơ sở xác định chị H và anh L trong thời gian chung sống không có tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, do chị H không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, trường hợp có phát sinh tranh chấp, các bên được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về nghĩa vụ chịu án phí: chị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Về quyền kháng cáo: các bên đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 8, khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị Bích H.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Bích H và anh Bùi Nguyễn Quang L.

2. Về con chung: không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết.

4. Về nghĩa vụ chịu án phí: chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001661 ngày 20/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: chị H được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh L được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được cấp, tống đạt hoặc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ