vanban.org

Bản án 40/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án N và N"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/DS-ST.
Ngày: 09/7/2019.
V/v: “T/c hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N1

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Bình

2. Ông Cao Phước Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh – Thư ký TAND huyện Hòn Đất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2019/TLST- DS ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST - DS ngày 27 tháng 6 năm 2019 giữa:

1/ Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Nga, sinh năm 1965.

Địa chỉ: ấp Thuận An, xã Bình Sơn, huyện HĐ, tỉnh KG.

2/ Đồng bị đơn: - Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982.

- Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: ấp Thuận An, xã Bình Sơn, huyện HĐ, tỉnh KG..

(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/5/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị Nga trình bày như sau:

Trước đây vào ngày 09/3/2018 do chỗ bà con họ hàng nên bà Ngô Thị Nga có cho vợ chồng anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 vay tiền số tiền là 142.000.000 đồng, việc vay tiền hai bên có làm biên nhận, mỗi bên giữ một bản. Đến vào tháng 3/2019 thì vợ chồng anh N1, chị N2 tiếp tục vay của bà Nga số tiền là 100.000.000 đồng, lần vay này thì hai bên không có làm biên nhận. Tổng cộng 02 lần thì vợ chồng anh N1, chị N2 đã vay của bà Nga là 242.000.000 đồng. Bà Nga đã đến nhà yêu cầu vợ chồng anh N1, chị N2 trả N2ều lần nhưng vợ chồng anh N1, chị N2 vẫn chưa thanh toán.

Tại phiên tòa hôm nay bà Ngô Thị Nga xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 100.000.000 đồng vào tháng 3/2019 do việc vay tiền hai bên không có làm biên nhận với nhau. Bà Ngô Thị Nga chỉ yêu cầu chồng anh Nguyễn Văn N1, chị Nguyễn Thị N2 phải trả cho bà số tiền vay gốc còn nợ là 142.000.000 đồng, bà Nga không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra bà Nga không yêu cầu gì thêm.

* Tại các bản khai và tại phiên tòa hôm nay đồng bị đơn anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 trình bày như sau:

Anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 thừa nhận trước đây vào năm 2018 vợ chồng anh chị có vay tiền của bà Ngô Thị Nga số tiền là 142.000.000 đồng, việc vay tiền hai bên có làm biên nhận, lãi suất thỏa thuận là 8%/tháng, vợ chồng anh N1, chị N2 đã đóng lãi N2ều lần nhưng việc đóng lãi thì không có giấy tờ gì để chứng minh. Đối với việc bà Nga cho rằng vợ chồng anh N1 có vay của bà số tiền 100.000.000 đồng vào tháng 3/2019 là không có. Nay bà Nga yêu cầu vợ chồng anh N1, chị N2 phải trả cho bà Nga số tiền vay còn nợ là 142.000.000 đồng thì anh chị cũng đồng ý trả nhưng xin được trả dần mỗi tháng 500.000 đồng/tháng đến khi hết số nợ trên, vì hiện tại hoàn cảnh gia đình anh chị rất khó khăn.

Ý kiến phát biểu của Vị đại diê ̣n Viê ̣n kiể m sá t nhân dân huyện Hòn Đất , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc phía anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 phải trả cho bà Ngô Thị Nga số tiền vay còn nợ là 142.000.000 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 100.000.000 đồng do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu. Đồng thời buộc anh N1 và chị N2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Ngô Thị Nga với đồng bị đơn anh Nguyễn Văn N1, chị Nguyễn Thị N2. Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Về nội dung vụ án: Theo lời khai của các đương sự có trong hồ sơ vụ án cho thấy trước đây vào năm 2018 bà Ngô Thị Nga có cho vợ chồng anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 vay số tiền là 142.000.000 đồng, việc vay tiền giữa các bên có tổng kết nợ với nhau vào ngày 09/3/2018 là đúng sự thật và các bên không có tranh chấp. Tại phiên tòa bà Ngô Thị Nga yêu cầu vợ chồng anh N1 và chị N2 phải trả cho bà số tiền còn nợ là 142.000.000 đồng, bà Nga không yêu cầu tính lãi trên số tiền vay trên.

Hội đồng xét xử nhận thấy: qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên Tòa thì yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Nga là có căn cứ để được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Bởi lẽ theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 cũng thừa nhận hiện tại anh N1 và chị N2 còn nợ bà Nga số tiền là 142.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền này nhưng xin được trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến khi hết số nợ trên do hoàn cảnh hiện tại quá khó khăn.

Xét yêu cầu xin được trả dần của phía đồng bị đơn anh N1 và chị N2. Căn cứ vào mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 01 ngày 19/6/1997 của TANDTC - VKSNDTC- Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản quy định “…Tòa án không tự ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành …”. Đồng thời tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn cũng không đồng ý cho phía bị đơn được trả dần do đó HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền vay vào tháng 3/2019 là 100.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 không thừa nhận số nợ này, tại phiên tòa bà Ngô Thị Nga tự nguyện rút lại phần yêu cầu khởi kiện nêu trên nên HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Nga.

Ý kiến phát biểu của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở để được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.

Từ những lập luận và viện dẫn nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Nga là có cơ sở để được HĐXX xem xét chấp nhận. Do đó cần buộc anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 phải trả cho bà Ngô Thị Nga số tiền vay còn nợ là 142.000.000 đồng.

Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Nga toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000 đồng theo biên lai thu số 0005469 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 463, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Nga. Buộc anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 phải trả cho bà Ngô Thị Nga số tiền còn nợ là 142.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền vay 100.000.000 đồng do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu.

3. Về án phi DSST: Buộc anh Nguyễn Văn N1 và chị Nguyễn Thị N2 phải chịu

́ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật là 7.100.000 đồng (142.000.000 đồng x 5%).

Hoàn trả lại cho bà Ngô Thị Nga toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005469 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ