vanban.org

Bản án 40/2018/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Nghị quyết 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Nông Văn C 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HSST
Ngày: 09/03/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trần Quốc Lưu

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Chu Mạnh Tường

- Bà Nguyễn Thị Lượng

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thanh Tùng - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

NÔNG VĂN C ; sinh năm 1989; tại CB; Hộ khẩu thường trú: thôn B, xã D, huyện K, tỉnh Đ; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mê Văn M và bà Thì Thị S; tiền án: không; tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 06/11/2017 đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1965 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Văn C là người nghiện ma túy (Heroine) và bắt đầu sử dụng từ tháng 10/2017. Khoảng 09 giờ 00 ngày 06/11/2017, C bắt xe khách từ Khu công nghiệp S, tỉnh B đến khu vực vòng xoay H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày khi đến khu vực ngã tư B1, quốc lộ B, quận T rồi hỏi mua ma túy của một người đàn ông ( Không rõ lai lịch) 04 tép Heroine với giá 400.000 đồng. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi C đang cất giữ 04 tép Heroine trong ống tay áo và đứng trước nhà số A, Quốc lộ B, Khu phố C, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để đón xe về lại tỉnh B. Lúc này, Công an phường H, quận T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ của C: 04 ( Bốn) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín bên trong có chứa chất bột màu trắng, bỏ trong 02 gói giấy báo cuộn lại được thu giữ trong ống tay áo bên trái của Nông Văn C đang mặc; 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung màu trắng số thuê bao 01654599100; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành: 500.000 đồng.

Kết luận giám định số 1738/KLGĐ-H ngày 14/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố H kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nông Văn C và hình dấu Công an phường H, quận T gửi đến giám định có kết quả:

Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng (để trong 01 gói giấy) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1182 g, loại Heroine.

Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng (để trong 01 gói giấy) là ma

túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0905 g, loại Heroine.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an quận Thủ Đức, C khai nhận: là người nghiện ma túy (Heroine) và bắt đầu sử dụng từ tháng 10/2017. Khoảng 09 giờ 00 ngày 06/11/2017, C bắt xe khách từ Khu công nghiệp S, tỉnh B đến khu vực vòng xoay H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày khi đến khu vực ngã tư B1, quốc lộ B, quận T rồi hỏi mua ma túy của một người đàn ông ( Không rõ lai lịch) 04 tép Heroine với giá 400.000 đồng. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi C đang cất giữ 04 tép Heroine trong ống tay áo và đứng trước nhà số A, Quốc lộ B, Khu phố C, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để đón xe về lại tỉnh B. Lúc này, Công an phường H, quận T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ của C : 04 ( Bốn) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín bên trong có chứa chất bột màu trắng, bỏ trong 02 gói giấy báo cuộn lại được thu giữ trong ống tay áo bên trái của Nông Văn C đang mặc; 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung máu trắng số thuê bao 01654599100; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành: 500.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

- Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 1738 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân S , bên trong là ma tuý còn lại sau giám định.

- Một (01) điện thoại di động hiệu Sam sung màu trắng số thuê bao: 016545995100.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 22/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cùng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Chiến từ 12 đến 18 tháng tù, vật chứng vụ án xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 25 phút ngày 06/11/2017, tại trước số nhà A, Quốc lộ B, Khu phố C, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nông Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2087 gram, loại Heroin mục đích để sử dụng. Với những chứng cứ và tài liệu thu thập được có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nông Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên phải bị truy tố ra trước pháp luật.

Tội phạm mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an cho xã hội, gây nguy hại cho sức khỏe của con người, là mầm móng phát sinh tội phạm khác. Đặc biệt trong tình hình hiện nay tội phạm về ma túy ngày càng có chiều hướng gia tăng và tinh vi hơn. Vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng xem xét bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần mức án cho các bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với đối tượng (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho C đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 1738 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân S , bên trong là ma tuý còn lại sau giám định.

- Tịch thu xung quỹ nhà nước: Một (01) điện thoại di động hiệu Sam sung màu đen số thuê bao: 016545995100 bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Nghị quyết 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Nông Văn C 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2017.

- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 1738 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Xuân S , bên trong là ma tuý còn lại sau giám định.

- Tịch thu xung quỹ nhà nước: Một (01) điện thoại di động hiệu Sam sung màu đen số thuê bao: 016545995100.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

(Vật chứng theo phiếu nhập kho số NKT2018/66 ngày 07/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức, tiền theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 21/11/2017 tại Kho bạc nhà nước quận Thủ Đức).

- Áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ