vanban.org

Bản án 40/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: BÞ c¸o Nguyễn Thị K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K: 20.000.000đ( hai mươi triệu đồng) Tiền phạt phải nộp sau khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kiệm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: BÞ c¸o Nguyễn Thị K phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆNHOẰNG HOÁ
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HSST
Ngày 28/5/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

--------------------------------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng

2. Bà Vương Thị Liên

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Binh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá

Đại diện VKSND huyện Hoằng Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Mạnh - KSV.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với :

Bị cáo Nguyễn Thị K - sinh năm 1974; HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh T; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn N( đã chết) và bà Lê Thị H; có chồng là Bùi Khắc N( đã chết); có 02 con lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/1/2018 đến ngày 31/1/2018 hiện đang thực hiện Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Hồng T- sinh năm 1959

Trú tại: Thôn B, xã L, huyện H, T T. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 28 tháng 01 năm 2018 tại nhà ở của Nguyễn Thị K, sinh năm 1974 ở Thôn Đ, xã L tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Công an xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị K đang bán số lô, số đề cho Nguyễn Hồng T sinh năm 1959 ở xã L và tổng hợp bảng lô đề ghi trong ngày 28/01/2018. Thu giữ tại chỗ: 01 (một) bảng đề ngày 28/01/2018, 02 (hai) phôi đề ngày 28/01/2018 trong đó có 01 phôi đề Nguyễn Thị K vừa ghi cho Nguyễn Hồng T, 01 (một) bút bi mực đen, 01 (một) máy tính Casio Fx570 và số tiền 1.325.000 VNĐ (một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn Việt Nam đồng). Sau khi bị bắt Nguyễn Thị Kiệm đã khai nhận về hành vi ghi, gom số lô, số đề của mình đồng thời tự cộng tổng số tiền ghi gom số lô, số đề cho khách trong ngày 28/01/2018 tính đến thời điểm bị bắt là 5.681.000 VNĐ (năm triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn Việt Nam đồng).

Quá trình điều tra, truy tố bị can khai nhận: Do động cơ, mục đích vụ lợi nên từ đầu tháng 01/2018 Nguyễn Thị K đã ghi gom số lô, số đề cho khách, rồi tổng hợp thành bảng lô đề, K ôm luôn bảng lô đề và trực tiếp thanh toán với khách, sau đó tiêu hủy để tránh bị phát hiện. Đến 17 giờ 45 phút ngày 28/01/2018 khi K đang bán số lô, số đề cho Nguyễn Hồng T và tổng hợp bảng đề ghi trong ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoằng Hóa kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng T khai nhận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 28/01/2018, Nguyễn Hồng T đến nhà Nguyễn Thị K để mua các số đề: đầu 9 và đuôi 9 (gồm 19 số) số tiền 10.000 VNĐ (mười nghìn Việt Nam đồng)/01 số và số đề 19, 91 với số tiền 30.000 VNĐ (ba mươi nghìn Việt Nam đồng)/01 số. Tổng số tiền thể hiện là 320.000VNĐ (ba trăm hai mươi nghìn Việt Nam đồng), nhưng T chỉ phải trả cho K số tiền 260.000 VNĐ (hai trăm sau mươi nghìn Việt Nam đồng) do K đã giảm 20% hoa hồng. Khi K đang giao phôi đề và nhận tiền từ T thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Về vật chứng vụ án: Quá trình bắt quả tang cơ quan CSĐT Công an huyện Hoằng Hóa thu giữ: 01 (một) bảng đề ngày 28/01/2018, 02 (hai) phôi đề ngày 28/01/2018 đã đưa vào hồ sơ vụ án; 01 (một) bút bi mực đen, 01 (một) máy tính Casio Fx570 và số tiền 1.325.000 VNĐ (một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn Việt Nam đồng) đang tạm giữ chờ xét.

Bản cáo trạng số 47/CT-VKS-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị K tội “Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :

- Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K: từ 20 đến 25 triệu đồng; Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.325.000đ và tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen+ 01 máy tính CasinoFX570 hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa ; Truy thu để tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.356.000đ.Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, VKSND huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội của bị cáo Nguyễn Thị K: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 28/1/2018, Nguyễn Thị K đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề ngoài hệ thống nhà nước quản lý cho Nguyễn Hồng T, đó là các số có đầu 9 và đuôi 9( gồm 19 số) với tổng số tiền 260.000đ. Thu giữ tại chỗ số tiền 1.325.000đ và ngay sau khi bị bắt bị cáo đã tự tay tích kê bảng lô, đề thể hiện số tiền ghi gom lô đề trong ngày 28/1/2018 là 5.681.000đ

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trong khu dân cư, là nguyên nhân của các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, bị cáo nhận thức được việc ghi gom số lô đề ngoài hệ thống nhà nước quản lý được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật và có mục đích vụ lợi nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát hiện và ngăn chặn trước khi mở thưởng kết quả sổ xố nên căn cứ Nghị quyết 01/2010/NQ- HĐTP ngày 22/01/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có căn cứ xác định tổng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 5.681.000đ.

Về Luật áp dụng: Hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra sau 0g0p ngày 01/1/2018 nên áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 để xét xử đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, thể hiện được sự ăn năn hối hận nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc nhóm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công cộng nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận ngoài số tiền1.325.000đ bị bắt tại chỗ thì số tiền còn lại là 4.356.000đ bị cáo đã thu được nhưng chi trả hết cho những người thắng cuộc ngày hôm trước nên cần thiết phải truy thu toàn bộ số tiền này để sung quỹ Nhà nước. Đồng thời tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen+ 01 máy tính CasinoFX570 hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa.

Trong vụ án có Nguyễn Hồng T tham gia chơi đề nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, nên CQCSĐT CA huyện Hoằng Hóa đã ra quyết định xử lý hành chính là đúng với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ : Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 §iÒu 51, điểm b khoản 1 Điều 32, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017; Điều 331, 333 BLTTHS 2015.

Tuyên bố: BÞ c¸o Nguyễn Thị K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K: 20.000.000đ( hai mươi triệu đồng)

Tiền phạt phải nộp sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; - Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen+ 01 máy tính CasinoFX570 hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hóa theo bên bản giao nhận vật chứng số 46/BBGN ngày 23/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hoá.

- Tịch thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 1.325.000đ hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoằng Hoá theo biên lai thu số 0000787 ngày 23/4/2018; Truy thu để tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.356.000đ đối với Nguyễn Thị K.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ