- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P (D), Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T (T chùa) phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh s; Điều 135 Bộ luật Tố tụng h nh s; Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án số: 40/2018/HS-ST Ngày: 04-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
h
h n – h a hi n a: Ông Trần Thanh Quốc
i h nh n d n:
Ông Phan Ngọc Thạch, chức vụ: Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Tân Châu (nguyên là hiệu trưởng Trường THPT Tân Châu);
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, chức vụ: Nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tân Châu.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt là Thư ký tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hào – i m sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 và ngày 04 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, t s th m công khai vụ án h nh s s th m thụ lý số 32/2018/HSST, ngày 18 tháng 4 năm 2018 đối v i các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh P (D), sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; n i đăng ký hộ kh u thường trú và n i cư trú hiện nay: hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mư n; tr nh độ văn hoá: 8/12; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Lê Thị L; có vợ tên Cù Thị im L1 (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền s : hông có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2017 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
2. Cao Huỳnh P1, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh; n i đăng ký hộ kh u thường trú: Ấp TP, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; n i cư trú hiện nay: hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mư n; tr nh độ văn hoá: 4/12; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 (đã chết) và bà Cao Thị D2; vợ, con: chưa có.
Tiền s : Không.
Tiền án:
- B n án số 32/2002/HSST, ngày 11 tháng 6 năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt 05 tháng 09 ngày tù về tội “Trộm cắp T2 s n”, tr t do tại phiên tòa.
- B n án số 07/2003/HSST, ngày 17 tháng 02 năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp T2 s n”, chấp hành xong h nh phạt tháng 8-2004.
- B n án số 39/2005/HSST, ngày 18 tháng 4 năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp T2 s n”, chấp hành ong h nh phạt năm 2011.
- B n án số 75/2011/HSST, ngày 10 tháng 8 năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp T2 s n”, chấp hành ong h nh phạt ngày 29-9-2013.
- B n án số 40/2014/HSST, ngày 23 tháng 4 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp T2 s n”, chấp hành ong h nh phạt ngày 08-11-2016.
Tất c các tiền án trên chưa hết thời hạn được óa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2017 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
3. Nguyễn Anh P2, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; n i đăng ký hộ kh u thường trú: Ấp H, xã B, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; n i cư trú hiện nay: hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: hông có; tr nh độ văn hoá: 10/12; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí T và bà Hồ Thị L1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền s : hông có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2017 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
4. Ngô Thanh T (T chùa), sinh ngày 30 tháng 6 năm 2000 (đến ngày phạm tội thì bị cáo 17 tuổi 06 tháng) tại tỉnh Tây Ninh; n i đăng ký hộ kh u thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; n i cư trú hiện nay: hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; tr nh độ văn hoá: 11/12; dân tộc: inh; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô C3 và bà Nguyễn Thị Oanh K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền s : hông có.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2017 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợ h
a bị o Ngô Thanh T: Ông Ngô C3, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Oanh K, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm r y là cha, mẹ của bị cáo. (có mặt)
- Người bào hữa ho bị o: Ông Lê Minh Hiền là trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nư c tỉnh Tây Ninh bào chữa cho bị cáo Ngô T3 T. (có mặt tại phiên tòa nhưng khi tuyên án in vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng 15 giờ 15 phút, ngày 30-12-2017, Đội c nh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bắt qu tang Cao Huỳnh P1, Ngô Thanh T, Nguyễn Anh P2 có hành vi mua bán trái ph p chất ma túy cho Lê Văn T1, sinh năm 1988 và Huỳnh Hồng A, sinh năm 1987 tại nhà trọ P1 đang ở trọ, thuộc hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 01 (một) bịch ma túy v i số tiền 1.000.000 đồng.
Cùng ngày 30-12-2017, vào lúc 15 giờ 20 phút, Đội c nh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bắt qu tang Nguyễn Thanh P có hành vi mua bán trái ph p chất ma túy cho Đào Văn T2, sinh năm 1992 và Trần Văn T3, sinh năm 1991, tại nhà của P, thuộc hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 01 (một) bịch ma túy v i số tiền 2.000.000 đồng.
Tại C quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thanh P khai nhiều lần đến Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của người tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) mang về bán cho Cao Huỳnh P1 và người có nhu cầu s dụng ma túy; Cao Huỳnh P1 khai mua ma túy của P và người tên D3 (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán lại cho người có nhu cầu s dụng. Ngoài ra từ tháng 9 năm 2017 đến khi bị bắt qu tang, Cao Huỳnh P1 rủ Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T cùng bán trái phép chất ma túy cho người s dụng trên địa bàn huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cụ th như sau:
Từ ngày 30-11-2017 đến ngày 28-12-2017 Nguyễn Thanh P bán ma túy cho Nguyễn Quang V (Út), sinh năm 1987, trú tại hu phố 3, thị trấn T tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i giá 200.000 đồng, tại nhà của P.
Từ ngày 20-12-2017 đến ngày 28-12-2017, P bán ma túy cho Cao Huỳnh P1 tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tại nhà của P.
Ngày 28-12-2017 P bán ma túy cho Nguyễn Ngọc V1, sinh năm 1990, trú tại ấp Tân T, xã P, huyện Tân Châu 01 bịch ma túy v i số tiền 150.000 đồng, tại nhà của P.
Từ ngày 28-12-2017 đến ngày 29-12-2017, P bán ma túy cho Đào Văn T2, sinh năm 1992, trú tại ấp Tr, ã H, huyện Tân Châu tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, tại nhà của P.
Từ tháng 6-2017 đến ngày 29-12-2017 Cao Huỳnh P1 bán ma túy cho Vũ Danh S, sinh năm 1981, trú tại hu phố 3, thị trấn T tổng cộng 04 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1.
Từ tháng 11-2017 đến ngày 30-12-2017 P1, P2, T bán ma túy cho Nguyễn Tấn H (P em), sinh năm 1999, trú tại ấp 3, ã SD, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 100.000 đồng đến 800.000 đồng, tại nhà trọ của P1 (lần thứ 03, ngày 30-12-2017 H mua ma túy của P2 chưa kịp s dụng thì bị Công an phát hiện nên H bỏ chạy đến 17 giờ cùng ngày H mang bịch ma túy đến giao nộp cho Công an huyện Tân Châu).
Từ ngày 15-12-2017 đến ngày 29-12-2017 P1, P2, T bán ma túy cho Huỳnh Hồng A, sinh năm 1987, trú tại ấp TX, ã P, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 05 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 400.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và khu v c ấp Tân T, ã P.
Từ ngày 20-12-2017 đến ngày 30-12-2017 P1, P2 bán ma túy cho Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993, trú tại hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và trư c cổng nhà nghĩ Lan Đào thuộc Khu phố 3, thị trấn Tân Châu.
Từ tháng 12-2017 đến ngày 29-12-2017 P1, P2 bán ma túy cho Nguyễn Tấn L2, sinh năm 1993, trú tại ấp TP, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 150.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và khu v c ấp Tân T, xã P.
Từ giữa tháng 12-2017 P1 bán ma túy cho Huỳnh Thanh L3, sinh năm 1995, trú tại hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại khu v c lô 2, thị trấn Tân Châu.
Từ ngày 01-12-2017 đến ngày 03-12-2017 P1, P2, T bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1996, trú tại hu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1.
Từ ngày 24-12-2017 đến ngày 29-12-2017 P1, T bán ma túy cho Trần Quốc H (Dư ng), sinh năm 1993, trú tại ấp Đông L, xã Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 200.000 đồng đến 800.000 đồng, tại nhà trọ của Hoàng thuộc ấp TP, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Từ ngày 02-12-2017 đến ngày 16-12-2017 P1 bán ma túy cho Nguyễn Quang V (Út), sinh năm 1987, trú tại hu phố 3, thị trấn T tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà của P1.
Từ ngày 20-12-2017 đến ngày 25-12-2017 P1 bán ma túy cho Nguyễn Văn Thái C, sinh năm 1997, trú tại hu phố 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1.
Ngoài ra cao Huỳnh P1 và Ngô Thanh T còn bán ma túy cho người tên H4 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng; bán cho người tên D3 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng; bán cho người tên H5 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 1.000.000 đồng.
* ết luận giám định số 255 và số 256/MT-2017 ngày 03-01-2018, của Phòng kỹ thuật h nh s Công an Tây Ninh kết luận:
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon có chữ ký của Lê Văn T được hàn kín hai đầu (ký hiệu M1) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,2823 gam, sau giám định còn lại 0,1908 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 04 (bốn) bịch nylon có chữ ký của Cao Huỳnh P1 được hàn kín hai đầu (ký hiệu M2) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,0895 gam, sau giám định còn lại 0,9803 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) nỏ thủy tinh có chữ ký của Cao Huỳnh P1 (ký hiệu M3) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,1195 gam, sau giám định còn lại 0,0888 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) nỏ thủy tinh có chữ ký của Cao Huỳnh P1 (ký hiệu M4) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,0498 gam, sau giám định còn lại 0,0301 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon có chữ ký của Cao Huỳnh P1 được hàn kín hai đầu (ký hiệu M5) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,2153 gam, sau giám định còn lại 1,1248 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon có chữ ký của Nguyễn Tấn H được hàn kín hai đầu (ký hiệu M6) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,1241 gam, sau giám định còn lại 0,1068 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon có chữ ký của Đào Văn T3 được hàn kín hai đầu (ký hiệu M7) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,5075 gam, sau giám định còn lại 0,4241 gam.
+ Mẫu tinh th rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon có chữ ký của Nguyễn Thanh P được hàn kín hai đầu (ký hiệu M8) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 7,3645 gam, sau giám định còn lại 7,1882 gam.
* Vậ hứng hu giữ gồ :
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 01 (một) bịch nylon (ký hiệu 255/1) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,2823 gam, sau giám định còn lại 0,1908 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 04 (bốn) bịch nylon (ký hiệu 255/2) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 1,0895 gam, sau giám định còn lại 0,9803 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh (ký hiệu 255/3) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,1195 gam, sau giám định còn lại 0,0888 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh (ký hiệu 255/4) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,0498 gam, sau giám định còn lại 0,0301 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 01 (một) bịch nylon (ký hiệu 255/5) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 1,2153 gam, sau giám định còn lại 1,1248 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Thị Tuyết Mai, bên trong có 01 (một) bịch nylon (ký hiệu 255/6) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,1241 gam, sau giám định còn lại 0,1068 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Văn Nguyện, bên trong có 01 (một) bịch nylon (ký hiệu 256/7) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 0,5075 gam, sau giám định còn lại 0,4241 gam;
- 01 (một) b thư đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên Võ Quốc Thái và Nguyễn Văn Nguyện, bên trong có 03 (ba) bịch nylon (ký hiệu 256/8) chứa tinh th rắn, màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lượng 7,3645 gam, sau giám định còn lại 7,1882 gam;
- 03 cái k o; 02 đoạn ống nh a có đầu nhọn; 08 cái quẹt gas; 06 bình gas;
- 01 thẻ căn cư c công dân tên Cao Huỳnh P1;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 409610/2 của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 3483/7 của bị cáo P1 có được do bán ma túy cho L2; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 65453 của bị cáo P1; 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI, số Imei: 6204 của bị cáo P2.
- 01 b nh nh a; 01 tivi màn h nh phẳng, hiệu Darling; 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 20 cm và 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 25 cm của Cao Huỳnh P1.
- 01 e mô tô bi n số ki m soát 70TA-1474, số máy 76365, số khung 26222 thu của bị cáo T và 01 e mô tô bi n số ki m soát 70E1-092.49, số máy 75A1A5913, số khung A5913; 01 cây k m cộng l c màu anh thu trong nhà của Cao Huỳnh P1.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 3875 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 47837 của Nguyễn Thanh P.
- 20 ống hút; 14 bịch nylon được hàn kín một đầu; 01 e mô tô bi n số ki m soát 70K1-270.95, số máy 21759, số khung 21758 thu trong nhà của bị cáo P.
- Tiền Việt Nam: 5.550.000 đồng của bị cáo P1 và 12.000.000 đồng của bị cáo P.
* Về kê biên tài s n: Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T không có T2 s n nên không kê biên.
Đối v i Lê Văn T, Huỳnh Hồng A, Đào Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Tấn H (Phệ em), Nguyễn Văn H, Nguyễn Tấn L2, Huỳnh Thanh L3, Nguyễn Ngọc Đ, Trần Quốc H (Dư ng), Nguyễn Quang V, Vũ Danh S, Nguyễn Văn Thái Ch, Nguyễn Ngọc V1 có hành vi s dụng trái ph p chất ma túy nên Công an huyện Tân Châu đã phạt hành chính.
Đối v i các đối tượng tên H4, tên D, tên H5 theo lời khai của P1 và T có bán ma túy cho những đối tượng này nhưng chưa ác định được nhân thân, lại lịch nên khi nào ác định được, làm rõ sẽ có biện pháp lý sau.
Đối v i người tên D3 và người tên T2 bán ma túy cho Cao Huỳnh P1 và Nguyễn Thanh P hiện chưa ác định được nhân thân, lai lịch khi nào ác định được, làm rõ sẽ có biện pháp lý sau.
Tại B n cáo trạng số 33/CT-VKSTC ngày 18-4-2018 của Viện i m sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Cao Huỳnh P1 về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại đi m a, b, p kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999 và truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại đi m a, b kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện i m sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan đi m truy tố và đề nghị Hội đồng t tuyên bố các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2 và Ngô Thanh T phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”
- Áp dụng các đi m a, b, p kho n 2 Điều 194; đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999, phạt bị cáo Cao Huỳnh P1 từ 09 (chín) đến 11 (mười một) năm tù.
- Áp dụng các đi m a, b kho n 2 Điều 194; đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999, phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 08 (tám) đến 10 (mười) năm tù.
- Áp dụng các đi m a, b kho n 2 Điều 194; đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999, phạt bị cáo Nguyễn Anh P2 từ 07 (b y) đến 09 (chín) năm tù.
- Áp dụng các đi m a, b kho n 2 Điều 194; đi m o, p kho n 1 Điều 46; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật H nh s năm 1999, phạt bị cáo Ngô Thanh T từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.
* Về lý vật chứng:
Căn cứ Điều 41 của Bộ luật H nh s năm 1999 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh s năm 2015 đề nghị Hội đồng t , lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo P1, P, P2 không tranh luận.
Người bào chữa cho bị cáo T trình bày:
- Về tội danh: Thống nhất v i B n cáo trạng và luận tội của đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Tân Châu truy tố bị cáo Ngô Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về vai trò của bị cáo T trong vụ án: hi phạm tội bị cáo T là người chưa thành niên, bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức cho bị cáo P1 và bị bị cáo P1 rủ rê, lôi k o phạm tội.
- Về t nh tiết gi m nhẹ: Đồng ý v i quan đi m của Viện ki m sát, bị cáo T có 02 t nh tiết gi m nhẹ quy định tại các đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999. Tuy nhiên trư c khi khai mạc phiên tòa cha, mẹ của bị cáo T có cung cấp cho Tòa án thêm giấy khen do nhà trường khen thưởng bị cáo T trong thời gian học tập tại trường nên đề nghị Hội đồng em t áp dụng thêm kho n 2 Điều 46 Bộ luật H nh s năm 1999 đ gi m nhẹ h nh phạt cho bị cáo T.
Từ những t nh tiết trên, đề nghị Hội đồng t áp dụng các đi m a, b kho n 2 Điều 194; đi m o, p kho n 1, kho n 2 Điều 46; Điều 47; Điều 69 và Điều 74 của Bộ luật H nh s năm 1999, phạt bị cáo Ngô Thanh T từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù.
Ông Ngô C3 và bà Nguyễn Thị Oanh K là người đại diện hợp pháp của bị cáo T không tranh luận và in Hội đồng t
em t gi m nhẹ h nh phạt cho bị cáo T.
Bị cáo T không bổ sung gì thêm.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng t
em t gi m nhẹ h nh phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T2 liệu trong hồ s vụ án đã được th m tra, t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng t nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Tân Châu, Điều tra viên, Viện ki m sát nhân dân huyện Tân Châu, i m sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, tr nh t , thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh s . Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người bào chữa và đại diện hợp pháp của bị cáo T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Căn cứ lời khai của các bị cáo và kết qu tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t
t thấy là phù hợp v i lời khai của các bị cáo tại C quan điều tra, phù hợp v i biên b n phạm tôi qu tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ s vụ án, như vậy có đủ c sở kết luận: V i mục đích mua bán ma túy đ thu lợi bất chính và có tiền tiêu ài nên vào kho ng tháng 6 năm 2017 Nguyễn Thanh P nhiều lần đến Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy, loại Methamphetamin của người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) mang về bán cho Cao Huỳnh P1 và đối tượng nghiện ma túy; Cao Huỳnh P1 nhiều lần mua ma túy, loại Methamphetamin của P và người tên D3 (không rõ nhân thân, lai lịch) mang về chia nhỏ ra bán lại cho đối tượng nghiện ma túy. Từ tháng 9 năm 2017, P1 còn rủ rê, lôi k o Nguyễn Anh P2 và Ngô Thanh T cùng th c hiện hành vi mua bán trái ph p chất ma túy cùng v i m nh cho đến khi bị bắt qu tang.
Cùng ngày 30-12-2017 P1, T và P2 đang bán 01 (một) bịch ma túy cho Lê Văn T và Huỳnh Hồng A tại n i ở trọ của Cao Huỳnh P1 thuộc hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; P đang bán 01 (một) bịch ma túy cho Đào Văn T3 và Trần Văn T4 tại nhà của P thuộc khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh th bị Đội c nh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát hiện và bị bắt qu tang. Ngoài số lượng ma túy bị bắt qu tang th khi khám t chổ ở trọ của P1 và nhà của P, C quan công an còn thu giữ số lượng ma túy do P1 và P cất giữ nhằm mục đích mua bán.
Tại C quan điều tra Nguyễn Thanh P, Cao Huỳnh P1, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T còn khai nhận đã nhiều lần bán ma túy cho các đối tượng trên địa bàn huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cụ th như sau:
- Từ tháng 11-2017 đến ngày 30-12-2017 Nguyễn Thanh P bán ma túy cho Nguyễn Quang V (Út) tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng; bán ma túy cho Cao Huỳnh P1 tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; bán ma túy cho Nguyễn Ngọc V1 01 bịch ma túy v i số tiền 150.000 đồng; bán ma túy cho Đào Văn T3 tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Tất c các lần bán ma túy đều tại nhà của P, thuộc hu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Từ tháng 6-2017 đến ngày 30-12-2017 Cao Huỳnh P1 bán ma túy cho Vũ Danh S tổng cộng 04 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1; bán ma túy cho Huỳnh Thanh L3 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại khu v c lô 2, thị trấn Tân Châu; bán ma túy cho Nguyễn Quang V (Út) tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà của P1 và bán ma túy cho Nguyễn Văn Thái C tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1.
- Từ tháng 11-2017 đến ngày 30-12-2017 P1, P2, T bán ma túy cho Nguyễn Tấn H tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 100.000 đồng đến 800.000 đồng, tại nhà trọ của P1; bán ma túy cho Huỳnh Hồng A tổng cộng 05 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 400.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và khu v c ấp Tân T, ã P và bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Đ tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1.
- Từ ngày 20-12-2017 đến ngày 30-12-2017 P1, P2 bán ma túy cho Nguyễn Văn H tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và trư c cổng nhà nghĩ Lan Đào thuộc hu phố 3, thị trấn Tân Châu và bán ma túy cho Nguyễn Tấn L2 tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền 150.000 đồng, tại nhà trọ của P1 và khu v c ấp Tân T, ã P.
- Từ ngày 24-12-2017 đến ngày 29-12-2017 P1, T bán ma túy cho Trần Quốc H (Dư ng) tổng cộng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy v i số tiền từ 200.000 đồng đến 800.000 đồng, tại nhà trọ của Hoàng thuộc ấp TP, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra Cao Huỳnh P1 và Ngô Thanh T còn bán ma túy cho người tên H4 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng; bán cho người tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 200.000 đồng; bán cho người tên H5 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy v i số tiền 1.000.000 đồng
Tại kết luận giám định số 255/MT-2017 ngày 03-01-2018, của Phòng kỹ thuật h nh s Công an Tây Ninh kết luận:
Đối tượng được ký hiệu M1 có chữ ký của Lê Văn T có trọng lượng 0,2823 gam; đối tượng ký hiệu M2, M3, M4, M5 có chữ ký của bị cáo Cao Huỳnh P1, lần lượt có trọng lượng 1,0895 gam, 0,1195 gam, 0,0498 gam, 1,2153 gam; đối tượng ký hiệu M6 có chữ ký của Nguyễn Tấn H có trọng lượng 0,1241 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại kết luận giám định số 256/MT-2017 ngày 03-01-2018, của Phòng kỹ thuật h nh s Công an Tây Ninh kết luận:
Đối tượng được ký hiệu M7 có chữ ký của Đào Văn T3 có trọng lượng 0,5075 gam; đối tượng ký hiệu M8 có chữ ký của bị cáo Nguyễn Thanh P có trọng lượng 7,3645 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Do đó đã có đủ c sở kết luận hành vi của các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T đã cấu thành tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” tội phạm và h nh phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999 là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hi m cho ã hội, vi phạm Điều 3 Luật phòng chống ma túy; âm phạm trật t qu n lý của Nhà nư c về chất ma túy, gây nh hưởng ấu đến trật t an toàn ã hội tại địa phư ng; làm gia tăng tệ nạn ã hội tại địa phư ng nói riêng và ã hội nói chung nên cần ph i có mức án tư ng ứng v i hành vi mà các bị cáo th c hiện.
Tại B n cáo trạng số 33/CT-VKSTC ngày 18-4-2018 của Viện i m sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh và tại phiên tòa đại diện Viện ki m sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan đi m truy tố và đề nghị Hội đồng t tuyên bố bị cáo Cao Huỳnh P1 phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại đi m a, b, p kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999 và tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại đi m a, b kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999 là có căn cứ nên Hội đồng t chấp nhận.
Đối v i đề nghị của đại diện Viện i m sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” theo quy định tại các đi m a, b kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999, phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần là chưa phù hợp v i quy định của pháp luật. Bỡi lẽ “Phạm tội có tổ chức là h nh thức phạm tội có từ 02 người trở lên cùng cố ý th c hiện phạm tội, họ đều nhận thức rõ hành vi của m nh là nguy hi m cho ã hội nhưng vẫn quyết tâm phạm tội và trong đó có s phân công trách nhiệm cụ th cho từng người” nhưng trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa không có chứng cứ nào th hiện giữa bị cáo P và bị cáo P1 cùng nhau th c hiện tội phạm và có s phân công trách nhiệm cho từng người mà chỉ th hiện bị cáo P và bị cáo P1 th c hiện phạm tội một cách độc lập v i nhau. Do đó Viện ki m sát nhân dân huyện Tân Châu truy tố bị cáo P phạm tội có tổ chức là chưa đủ căn cứ nên Hội đồng t thấy hành vi của bị cáo P chỉ phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” nhiều lần, tội phạm và h nh phạt được quy định tại đi m b kho n 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999 là có căn cứ.
hi quyết định h nh phạt cũng cần em t đến vai trò, t nh tiết gi m nhẹ, tăng nặng trách nhiệm h nh s cho các bị cáo.
Về vai trò và nhân thân của từng bị cáo:
- Vai trò của các bị cáo: X t thấy, bị cáo P1 tổ chức mua ma túy mang về chia nhỏ ra bán đ thu lợi bất chính và phân công cho bị cáo P2, T giao ma túy cho người mua; do đó, bị cáo P1 có vai trò chính trong vụ án này nên ph i chịu mức án cao h n so v i các bị cáo còn lại. Bị cáo P th c hiện hành vi mua bán ma túy trái ph p nhiều lần cho bị cáo P1 nhưng không biết P1 mua ma túy về tổ chức bán lại nên bị cáo ph i chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái ph p chất ma túy do chính m nh th c hiện; hai bị cáo P2 và T biết việc bị cáo P1 tổ chức mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng v muốn có ma túy s dụng và đ có tiền tiêu ài vẫn cố t nh th c hiện theo s chỉ b o của bị cáo P1 nên hai bị cáo ph i chịu trách nhiệm v i vai trò là đồng phạm giúp sức cho bị cáo P1.
- Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo P1 có 05 tiền án về tội “Trộm cắp tài s n” và đã bị áp dụng t nh tiết tái phạm nguy hi m nhưng chưa được óa án tích mà lại phạm tội m i do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo P1 ph i chịu thêm t nh tiết định khung h nh phạt là tái phạm nguy hi m được quy định tại đi m p kho n 2 Điều 194 của Bộ luật H nh s năm 1999. Đối v i bị cáo Ngô Thanh T khi th c hiện hành vi phạm tội là chưa thành niên (17 tuổi 06 tháng) nên Hội đồng t căn cứ kho n 1 Điều 74 của Bộ luật H nh s 1999 đ em t áp dụng h nh phạt đối v i bị cáo; bị cáo P và bị cáo P2 có nhân thân tốt.
T nh tiết gi m nhẹ trách nhiệm h nh s : Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối c i; các bị cáo t thú hành vi phạm tội các lần trư c đó, đây là các t nh tiết gi m nhẹ được quy định tại các đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s . Riêng bị cáo Nguyễn Anh P2 có nhiều thành tích trong th dục, th thao do cấp Quốc gia chứng nhận khen thưởng nên Hội đồng t áp dụng thêm t nh tiết gi m nhẹ quy định tại đi m s kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s 1999.
T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s : hông có.
Hành vi của các bị cáo cần phạt mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống ã hội một thời gian nhất định m i đủ điều kiện giáo dục, c i tạo các bị cáo thành người có ích cho ã hội và đồng thời m i có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
X t lời tr nh bày của người bào chữa cho bị cáo T: Ông Hiền thống nhất v i b n luận tội của i m sát viên về tội danh, về vai trò và các t nh tiết gi m nhẹ đối v i bị cáo T, tuy nhiên việc ông Hiền cho rằng bị cáo T có nhiều giấy khen do nhà trường khen thưởng và đề nghị áp dụng thêm kho n 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật H nh s năm 1999 đ gi m nhẹ cho bị cáo T là chưa phù hợp nên Hội đồng t không có căn cứ chấp nhận.
Về h nh phạt bổ sung: Các bị cáo P, P1, P2, T không có tài s n riêng nên miễn h nh phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối v i Lê Văn T, Huỳnh Hồng A, Đào Văn T3, Trần Văn T4, Nguyễn Tấn H, Nguyễn Văn H, Nguyễn Tấn L2, Huỳnh Thanh L3, Nguyễn Ngọc Đ, Trần Quốc H, Nguyễn Quang V, Vũ Danh S, Nguyễn Văn Thái C, Nguyễn Ngọc V1 có hành vi s dụng trái ph p chất ma túy nên Công an huyện Tân Châu đã phạt hành chính là đúng theo quy định pháp luật.
Đối v i người tên H4, tên D, tên H5 theo lời khai của P1 và T có bán ma túy cho những người này nhưng chưa ác định được nhân thân, lại lịch nên khi nào ác định được, làm rõ sẽ có biện pháp lý sau.
Đối v i người tên D3 và người tên T2 bán ma túy cho Cao Huỳnh P1 và Nguyễn Thanh P hiện chưa ác định được nhân thân, lai lịch khi nào ác định được, làm rõ sẽ có biện pháp lý sau.
Về lý vật chứng:
- Số lượng ma túy được hoàn lại sau khi giám định còn lại được niêm phong có chữ ký của giám định viên gồm: B thư (ký hiệu 255/1), trọng lượng 0,1908 gam; bì thư (ký hiệu 255/2), trọng lượng 0,9803 gam; b thư (ký hiệu 255/3), trọng lượng 0,0888 gam; b thư (ký hiệu 255/4), trọng lượng 0,0301 gam; b thư (ký hiệu 255/5), trọng lượng 1,1248 gam; b thư (ký hiệu 255/6), trọng lượng 0,1068 gam; b thư (ký hiệu 256/7), trọng lượng 0,4241 gam; b thư (ký hiệu 256/8), trọng lượng 7,1882 gam và 03 cây k o; 02 đoạn ống nh a có đầu nhọn; 08 cái quẹt gas; 06 bình gas; 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 20 cm; 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 25 cm; 01 cái b nh nh a; 20 ống hút; 14 bịch nylon được hàn kín một đầu. Đây là các công cụ P1 tiện các bị cáo mua về v i mục đích phạm tội là vật cấm, vật không còn giá trị s dụng, vật có giá trị không đáng k nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh s năm 2015.
Đối v i vật chứng như: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 409610/2 của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 3483/7, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 65453; 01 tivi màn hình phẳng, hiệu Darling và số tiền Việt Nam 1.000.000 đồng của bị cáo P1; 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI, số Imei: 6204 của bị cáo P2; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 47837 và số tiền việt Nam 2.000.000 đồng của bị cáo P là vật chứng, tài s n và phư ng tiện các bị cáo dùng đ liên lạc trong việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân Nhà nư c theo quy định tại đi m a kho n 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh s năm 2015.
Đối v i 01 e mô tô bi n số ki m soát 70 1-270.95, số máy 21759, số khung 21758, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 3875 và số tiền Việt Nam 10.000.000 đồng của bị cáo P; 01 cây k m cộng l c màu anh; 01 thẻ căn cư c công dân tên Cao Huỳnh P1; số tiền Việt Nam 4.550.000 đồng của bị cáo P1 là tài s n, vật chứng không liên quan đến vụ án nên tr lại cho bị cáo P và bị cáo P1.
Đối v i 01 e mô tô bi n số ki m soát 70TA-1474, số máy 76365, số khung 26222 thu của bị cáo T và 01 e mô tô bi n số ki m soát 70E1-092.49, số máy 75A1A5913, số khung A5913 thu trong nhà của bị cáo P1, trong quá trình điều tra do chưa ác định rõ được nguồn gốc nên Công an huyện Tân Châu tiếp tục ác minh làm rõ và sẽ lý theo quy định pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo P, P1, P2, T ph i chịu án phí h nh s s th m theo quy định pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P (D), Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T (T chùa) phạm tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”.
Căn cứ vào các đi m a, b, p kho n 2 Điều 194; các đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999: X phạt bị cáo Cao Huỳnh P1 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày 30-12-2017.
Căn cứ vào các đi m b kho n 2 Điều 194; các đi m o, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật H nh s năm 1999: X phạt bị cáo Nguyễn Thanh P (D) 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày 30-12-2017.
Căn cứ vào các đi m a, b kho n 2 Điều 194; các đi m o, p, s kho n 1 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật H nh s năm 1999: X phạt bị cáo Nguyễn Anh P2 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày 30-12-2017.
Căn cứ vào các đi m a, b kho n 2 Điều 194; các đi m o, p kho n 1 Điều 46, Điều 69 và kho n 2 Điều 74 của Bộ luật H nh s năm 1999: X phạt bị cáo Ngô Thanh T (T chùa) 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày 30-12-2017.
Miễn h nh phạt bổ sung cho các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T.
2. Về lý vật chứng: Áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật H nh s năm 1999 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh s 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy được hoàn lại sau khi giám định còn lại được niêm phong có chữ ký của giám định viên gồm: B thư (ký hiệu 255/1), trọng lượng 0,1908 gam; b thư (ký hiệu 255/2), trọng lượng 0,9803 gam; b thư (ký hiệu 255/3), trọng lượng 0,0888 gam; b thư (ký hiệu 255/4), trọng lượng 0,0301 gam; bì thư (ký hiệu 255/5), trọng lượng 1,1248 gam; b thư (ký hiệu 255/6), trọng lượng 0,1068 gam; b thư (ký hiệu 256/7), trọng lượng 0,4241 gam; b thư (ký hiệu 256/8), trọng lượng 7,1882 gam và 03 cây k o; 02 đoạn ống nh a có đầu nhọn; 08 cái quẹt gas; 06 b nh gas; 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 20 cm; 01 cây dao bằng kim loại có kích thư c lưỡi dao dài 25 cm; 01 cái b nh nh a; 20 ống hút; 14 bịch nylon được hàn kín một đầu.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nư c: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 409610/2 của bị cáo T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, số Imei: 3483/7, 01 điện thoại di động hiệu Iphon, số Imei: 65453, 01 tivi màn h nh phẳng, hiệu Darling và 1.000.000 (một triệu) đồng của bị cáo P1; 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI, số Imei: 6204 của bị cáo P2; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei: 47837 và 2.000.000 (hai triệu) đồng của bị cáo P.
- Tr lại cho bị cáo Nguyễn Thanh P 01 e mô tô bi n số ki m soát 70 1-270.95, số máy 21759, số khung 21758; 01 điện thoại di động hiệu Iphon, số Imei: 3875 và 10.000.000 (mười triệu) đồng.
- Tr lại cho bị cáo Cao Huỳnh P1 01 cây k m cộng l c màu anh; 01 thẻ căn cư c công dân tên Cao Huỳnh P1 và 4.550.000 (bốn triệu, năm trăm năm mư i ngh n) đồng.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân s huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên b n giao nhận vật chứng ngày 29/5/2018)
3. Về án phí h nh s s th m: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng h nh s năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội khoá 14.
Các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T mỗi bị cáo ph i chịu 200.000 (hai trăm ngh n) đồng án phí h nh s s th m.
4. Các bị cáo Cao Huỳnh P1, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Anh P2, Ngô Thanh T và ông Ngô C3, bà Nguyễn Thị Oanh K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án. Ông Lê Minh Hiền có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp b n án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s th người được thi hành án dân s , người ph i thi hành án dân s có quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s , thời hiệu thi hành án dân s được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - V SND huyện Tân Châu; - Chi cục THADS huyện Tân Châu; - Công an huyện Tân Châu; - Phòng PV27 – Công an Tây Ninh; - Bị cáo; - THA phạt tù; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Lưu tập án, hồ s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thanh Quốc |