vanban.org

Bản án 40/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Tiếp tục duy trì lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/2018/HSST-LCCT ngày 24-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên đối với bị cáo Lê Văn L cho đến ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HS-ST
Ngày: 04-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Cao Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tảo;

Bà Quản Thị Vân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Văn L, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; cư trú tại: Ấp M, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị truy cứu trách nhiệm và chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 27/4/2018 cho đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn T (là cha của bị hại), sinh năm 1980 và bà Lê Thị Đ (là mẹ của bị hại), sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn L không có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 5 giờ 30 phút ngày 28/12/2017, Lê Văn L điều khiển xe mô tô biển số 70B1-422.46, có dung tích xi lanh là 97 cm3, lưu thông trên đường Tỉnh lộ 783 theo hướng từ Tỉnh lộ 788 đến Quốc lộ 22B đề về nhà. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Tân Thạnh, xã Tân Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, L điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái hướng đi thì xảy ra tai nạn với xe mô tô biển số 70T1-2332 do Nguyễn Văn T, sinh năm 2000 chở theo phía sau là Nguyễn Văn Tuấn E, sinh năm 2003 cùng trú tại ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang đi theo chiều ngược lại. Tai nạn xảy ra làm Nguyễn Văn T tử vong tại chổ; Nguyễn Văn Tuấn E bị thương nhẹ, ngày 10/7/2018 Tuấn E có đơn xin từ chối giám định thương tật; bị cáo Lê Văn L bị chấn thương sọ não phải nằm viện điều trị đến ngày 05/01/2018 ra viện.

Kết quả giám định:

- Kết luận giám định số 238/GTR.2017, ngày 02/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn T không có nồng độ cồn trong máu.

- Kết luận giám định pháp y về tử thi số 32/2018/TT, ngày 12/02/2018 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyễn Văn T tử vong do đa chấn thương, chấn thương sọ não, dập não, xuất huyết não.

- Phiếu chỉ định xét nghiệm ngày 28/12/2017 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Lê Văn L là âm tính.

Về việc thu giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

Ngày 08/8/2018, Cơ quan điều tra đã hoàn trả cho chủ sở hữu hợp pháp Lê Thị Đ 01 xe mô tô biển số 70T1-2332, số máy 016877, số khung 068771, nhãn hiệu VEMVIPI và hoàn trả cho chủ sở hữu hợp pháp Lê Văn L 01 xe mô tô biển số 70B1-015.60, số máy 1111783, số khung 11012794, nhãn hiệu WORLD.

Ngoài ra còn thu giữ tại hiện trường nhiều mảnh nhựa màu đỏ bị bể.

Về phần dân sự: Gia đình bị cáo Lê Văn L đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ là cha mẹ ruột của anh Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn Tuấn E không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 37/CT-VKS-KSĐT, ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 202 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Lê Văn L mức án từ 18 đến 24 tháng tù;

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn L đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận;

Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để về nuôi cha mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L khai nhận: Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 28/12/2017, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 70B1-422.46 có dung tích xi lanh 97 cm3 lưu thông trên đường Tỉnh lộ 783 theo hướng từ Tỉnh lộ 788 đến Quốc lộ 22B để về nhà, khi đến đoạn đường tại ấp Tân Thạnh, xã Tân Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái hướng đi, va chạm với xe mô tô biển số 70T1-2332 do Nguyễn Văn T điều khiển chở theo phía sau là Nguyễn Văn Tuấn E. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn T tử vong.

Hành vi của bị cáo Lê Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Cáo trạng số 37/QĐ/KSĐT ngày 22/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ và đúng pháp luật. Bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/7/2017 trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018. Xét thấy khung hình phạt về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) ngang bằng với khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện đang có hiệu lực thi hành do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử vụ án đối với bị cáo L mà không làm xấu đi tình trạng của bị cáo.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo điều khiển xe mô tô khi chưa có giấy phép lái xe, lấn trái không đúng quy định, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả đã làm anh Nguyễn Văn T tử vong, xe mô tô biển số 70T1-2332 của anh Nguyễn Văn Tuấn bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, tài sản và trật tự, an toàn công cộng; gây mất mát, đau thương cho gia đình nạn nhân. Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ và hạn chế các vụ tai nạn giao thông xảy ra, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Nguyễn Văn T và được đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Lê Văn L và gia đình đã bồi thường cho gia đình của bị hại số tiền 90.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, tiêu hủy những vật chứng không có giá trị sử dụng, bị cáo và gia đình bị hại không yêu cầu trả lại gồm: Nhiều mảnh nhựa màu đỏ thu giữ tại hiện trường vụ án bị bể hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Tiếp tục duy trì lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/2018/HSST-LCCT ngày 24-8-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên đối với bị cáo Lê Văn L cho đến ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy nhiều mảnh nhựa màu đỏ thu giữ tại hiện trường vụ án .

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ