vanban.org

Bản án 40/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 14/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Giàng A Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Giàng A Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 40/2018/HS-ST
Ngày: 14-9-2018.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bá Khiên

Ông Vì Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2018/TLST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Giàng A Th, sinh ngày 09 tháng 05 năm 1994 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A H, sinh năm 1969 và bà Khà Y Đ, sinh năm 1968, bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Khà Y D, sinh năm 1994 (không đăng ký kết hôn) và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật lần nào, có nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 18/4/2018 chuyển tạm giam ngày 27/4/2018. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Giàng A H, sinh năm 1969, nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 18/4/2018, tổ công tác Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đang làm nhiệm vụ tại địa phận xóm PCC, xã PC, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì phát hiện Giàng A Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28M1 – 3167, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVES theo hướng H – PC có nghi vấn đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện phía trong ống tay áo bên trái Th đang mặc có 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa các viên nén hình trụ màu hồng, Th khai nhận đó là ma túy tổng hợp của Th tàng trữ để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để xác minh, làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Giàng A Th khai nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 12/4/2018, khi Th đang ở khu vực Ng thuộc xóm S, xã T, huyện M thì có một người đàn ông không quen biết đến gặp Th và hỏi có biết chỗ nào bán ma túy tổng hợp không, Th trả lời là không biết, để về H hỏi xem. Trong lúc nói chuyện Th đã cho người đàn ông đó số điện thoại Th đang sử dụng để liên lạc. Đến ngày 15/4/2018 người đàn ông đó có gọi điện cho Th để hỏi mua ma túy tổng hợp, nhưng Th nói chưa có, và người đàn ông đó bảo Th đi tìm mua 3.000.000 đồng ma túy tổng hợp sau đó mang xuống khu vực Ng, người đó sẽ mua lại với giá 4.500.000 đồng, Th đồng ý. Khoảng 03 giờ ngày 18/4/2018, Giàng A Th một mình điều khiển xe mô đi từ nhà tại xóm P, xã H, huyện M đi lên bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy. Khi đang điều khiển xe trên đường dân sinh thuộc bản L thì Th gặp một người phụ nữ dan tộc Mông không quen biết khoảng 30 tuổi và hỏi người đó có ma túy tổng hợp bán không thì người đó trả lời có. Th đưa cho người phụ nữ đó 3.000.000 đồng, người đó cầm tiền và đưa cho Th 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa ma túy tổng hợp. Mua bán xong Th điều khiển xe quay về nhà, khi về đến nhà Th mở gói ma túy vừa mua được ra kiểm tra thì thấy trong đó có 115 viên ma túy tổng hợp. Sau đó Th đã sử dụng 02 lần, mỗi lần sử dụng hết 03 viên ma túy tổng hợp. Sử dụng xong, Th gói lại sau đó cất giấu trong ống tay áo bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đi xuống Ng để bán cho người đàn ông như đã hẹn. Khi đang điều khiển xe đến xóm PCC, xã PC, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì bị tổ công tác bắt quả tang.

Tiến hành cân, xác định khối lượng 109 viên nén hình trụ màu hồng trong phong bì niêm phong ghi tên Giàng A Th là 11,16 gam. Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ tang vật làm mẫu vật gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số: 112/KLGĐ-CTA-PC54 ngày 18/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Các viên nén hình trụ trong phong bì niêm phong ghi tên Giàng A Th gửi giám định có tổng khối lượng là 11,16 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 39/CT - VKS - HS ngày 13/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Giàng A Th về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bị cáo Giàng A Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Giàng A Th từ 07 đến 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/4/2018.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28M1 - 3167 bị cáo Giàng A Th dùng làm phương tiện đi mua ma túy. Qua điều tra xác minh chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của ông Giàng A H, sinh năm 1969, việc Th điều khiển xe mô tô BKS 28M1 - 3167 đi mua ma túy ông H không biết, không có lỗi. Ngày 25/7/2018 ông H đã có đơn xin lại tài sản, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại ngay chiếc xe và đăng ký xe mô tô số 001893 cho ông Giàng A H.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu HUAWEI màu trắng đã qua sử dụng có số IMEL 1: 862192036035998; số IMEL 2: 862192036096313, bên trong điện thoại có sim VIETTEL số thuê bao: 01635444641, hiện tạm giữ của Giàng A Th. Do bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 60.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng của Giàng A Th, qua điều tra xác định không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cần tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án về án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

- Đối với người phụ nữ dân tộc Mông mà bị cáo Giàng A Th khai đã bán ma túy cho bị cáo ngày 18/4/2018 và người đàn ông mà bị cáo khai đã gặp tại Ng , hứa mua ma túy và gọi điện thoại cho bị cáo ngày 15/4/2018, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của bị cáo: Đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, không bị ép cung, mớm cung, đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì. Bị cáo nhận thấy không cần tranh luận vấn đề gì. Đối với chiếc xe bị thu giữ là của bố đẻ bị cáo, việc bị cáo sử dụng đi mua ma túy bố bị cáo không biết, đề nghị trả lại cho bố Bị cáo. Còn các vật chứng thu giữ khác không có ý kiến gì. Nguyên nhân vi phạm pháp luật là không làm chủ được bản thân do nghiện ma túy, đã đi mua về để sử dụng và đem đi bán kiếm lời. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo với Cơ quan Công an.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Giàng A H đã trình bày, ông là bố đẻ của bị cáo Giàng A Th. Ngày 18/4/2018 con trai ông điều khiển xe mô tô của ông đi đâu, làm gì ông không biết, chỉ sau khi con trai bị bắt về tội phạm ma túy ông mới biết. Chiếc xe mô tô là của ông, do ông đứng tên, là phương tiện đi lại của gia đình nên đề nghị trả lại chiếc xe mô tô cho ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm sử dụng và bán kiếm lời như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu được và kết luận giám định cùng toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 18/4/2018 tại bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, Giàng A Th đã mua 01 gói ma túy 115 viên loại Methamphetamine với một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Sau khi mua được ma túy bị cáo về nhà sử dụng 06 viên, số còn lại 109 viên mang xuống Ng để bán cho người đàn ông như đã hẹn, trên đường đi về đến xóm PCC, xã PC, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Th đã bị bắt quả tang. Giàng A Th có hành vi mua bán trái phép 11,16 gam Methamphetamine.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bị xã hội lên án. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vì lợi nhuận, vì cần có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã mua ma túy về sử dụng và bán để kiếm lời dẫn đến phạm tội. Trong khi nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Song vì muốn có ma túy, muốn có tiền một cách nhanh chóng, dễ dàng nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Giàng A Th phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

- Tuyên bố bị cáo Giàng A Th phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Giàng A Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18/4/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phòng bì.

- Trả lại ngay 01 chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 28M1 - 3167 và 01 đăng ký xe số 001893 cho ông Giàng A H, sinh năm 1969, nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu HUAWEI màu trắng đã qua sử dụng kèm theo 01 sim trong điện thoại.

- Tạm giữ số tiền 60.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng của Giàng A Th để đảm bảo cho việc thi hành án phí hình sự sơ thẩm.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 40/THA ngày 15/8/2018 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Bị cáo Giàng A Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ