vanban.org

Bản án 40/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 05/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T và giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm số 253/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Toà án nhân dân thành phố A.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999. điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Xử phạt: Trần Thanh T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T và giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm số 253/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Toà án nhân dân thành phố A.
  • Căn cứ chính? Điều 351 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử vắng mặt; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HS - PT
Ngày 05/3/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Lan Phương

Bà Lê Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Sơn - Thư ký Toà án nhân dân

tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hằng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh A xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLPT-HS ngày 18/01/2018 đối với bị cáo Trần Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 253/2017/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố A, tỉnh A.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 1985 tại phường C, thành phố B, tỉnh A.

Nơi cư trú: khu phố Hồng Thắng, phường C, thành phố B, tỉnh A; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Quốc E và bà Nguyễn Thị F; có vợ Lê Thị G, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/5/2007 bị đưa vào Cơ sở giáo dục H, I thời gian 24 tháng về hành vi “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 27/01/2010 Toà án nhân dân thành phố B xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời gian thử thách 05 năm; bị cáo tại ngoại. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h15’, ngày 23/5/2017, tại khu vực đèn xanh đèn đỏ, gần Chùa K, phường D, thành phố A. Công an thành phố A phát hiện bắt quả tang trong túi quần bên phải của Trần Thanh T 03 gói (trong đó có 02 túi nilon màu trắng kích thước (3x4)cm và (4x5)cm, 01 gói giấy màu trắng kích thước(0,5x2)cm bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, T khai là Heroine mua để sử dụng.

Quá trình điều tra Trần Thanh T khai nhận: Số Heroine trên T mua của một thanh niên không biết tên, địa chỉ cụ thể vào khoảng 19h00’ cùng ngày tại khu vực cầu N, thị trấn M, huyện M, tỉnh A với giá 2.000.000đ, mục đích mua để sử dụng dần, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Kết luận giám định số: 1288/MT-PC54 ngày 26/5/3017 và số 2017/MT-PC54 ngày 26/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh A kết luận: Số ma túy thu của Trần Thanh T 02 gói, trong đó gói có trọng lượng: 3,713g hàm lượng Heroine là 48,30%, và 01 gói có trọng lượng 0,059g, hàm lượng Heroine là 42,76%. Tổng trọng lượng 3,772g (tương đương 1,818g Heroine)

Tại bản án số: 253/2017/HSST ngày 28/9/2017 của TAND thành phố A đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS 1999. Điểm a khoản 2 Điều 76, điểm c khoản 2 Điều 187 BLTTHS. Điểm p khoản 1 Điều 51, Điều 249 BLHS 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 06/10/2017 bị cáo Trần Thanh T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Trần Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày tháng 05/3/2018, bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì bị cáo bị ốm không thể có mặt tại phiên toà được. Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử vắng mặt bị cáo.

Trong đơn kháng cáo bị cáo Trần Thanh T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, nhưng không có tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét. Các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo; là người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, và điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đã được Toà án cấp sơ thẩm xem xét, và mức án 30 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh T và giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm số 253/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Toà án nhân dân thành phố A.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999. điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Xử phạt: Trần Thanh T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Án phí phúc thẩm: Trần Thanh T không phải chịu án phí phúc thẩm.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ