vanban.org

Bản án 40/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban…

* Tuyên xử: Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn bà Nhâm Thị Hồng P và bị đơn ông Châu Văn L Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------
Bản án số: 40/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2018.
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”
. NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Công Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Minh Dẫn

2. Ông Trần Huy Tùng

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Chí Hướng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện viện kiểm sát huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên

Vào ngày 09 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:116/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:38/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nhâm Thị Hồng P, sinh năm 1994, dân tộc: Kinh, địa chỉ: Ấp PK, xã VH, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

* Bị đơn: Ông Châu Văn L, sinh năm 1989, dân tộc: Kinh, địa chỉ: Ấp TA.1, xã T.3, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/4/2018 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa thì nguyên đơn bà Nhâm Thị Hồng P trình bày: Vào năm 2014, bà và ông Châu Văn L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T.3, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/10/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ông L tại Ấp TA.1, xã T.3, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường hay cãi vã, ông L từng bạo hành đối với bà cho nên bà và ông L đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian chung sống bà và ông L có 01 con chung tên Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015, hiện nay Nhật H đang sống với ông L vì ông L bắt Nhật H về nuôi chưa được sự đồng ý của bà. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Nay bà Nhâm Thị Hồng P yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Châu Văn L; Về con chung: Bà Nhâm Thị Hồng P yêu cầu được nuôi con chung tên Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015 cho đến đủ 18 tuổi, bà P không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Châu Văn L trình bày: Về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn, thời gian không còn sống chung, con chung đúng như bà P trình bày là đúng, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, hay cãi vã nhau chứ ông không có bạo hành với bà P. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có. Qua yêu cầu khởi kiện của bà P ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P; Về con chung: ông L cũng yêu cầu được nuôi con chung tên Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015 cho đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà Nhâm Thị Hồng P phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và không chấp nhận việc nguyên đơn yêu cầu xin được nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 05/4/2018, bà Nhâm Thị Hồng P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Châu Văn L có nơi cư trú tại Ấp TA.1, xã T.3, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Trần Đề thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn Nhâm Thị Hồng P:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nhâm Thị Hồng P và ông Châu Văn L tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T.3, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/10/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông L là hợp pháp. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau, mâu thuẫn kéo dài đến tháng 5 năm 2017 thì vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà P làm đơn khởi kiện để xin ly hôn tại Tòa án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ chồng bà P, ông L đoàn tụ với nhau nhưng các bên không thỏa thuận được và tại phiên tòa hôm nay ông L đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà P, ông L đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà P xin ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và ghi nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự.

Về con chung: Vợ chồng bà Nhâm Thị Hồng P và Châu Văn L có một người con chung là Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015, hiện nay sống chung với ông L. Bà P và ông L cùng có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, từ ngày bà P và ông L không còn sống chung cháu Nhật H do ông L trực tiếp nuôi dưỡng và để đảm bảo cuộc sống của cháu Nhật H không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm lý sinh lý của cháu khi cha mẹ ly hôn. Do đó, yêu cầu của ông L là phù hợp với điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên của ông L và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015 cho ông Châu Văn L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Tại phiên tòa hôm nay, ông Châu Văn L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tài sản chung: Bà P và ông L cùng xác nhận không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà P và ông L cùng xác nhận không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nhâm Thị Hồng P chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn bà Nhâm Thị Hồng P và bị đơn ông Châu Văn L

2. Về con chung:

- Giao cho ông Châu Văn L trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Nhâm Thị Hồng P và ông Châu Văn L là cháu Châu Nhật H, sinh ngày 19/8/2015 đến khi thành niên (hiện nay cháu H sống chung với ông Châu Văn L).

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Châu Văn L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Bà Nhâm Thị Hồng P có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Châu Nhật H mà không ai được cản trở. Bà Nhâm Thị Hồng P không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Châu Nhật H của ông Châu Văn L.

3. Về tài sản chung: Bà Nhâm Thị Hồng P và ông Châu Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Nhâm Thị Hồng P và ông Châu Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nhâm Thị Hồng P chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009627, ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Bà P đã thực hiện xong.

- Ông Châu Văn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ