vanban.org

Bản án 40/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị C. Chị Huỳnh Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.

Về con C: Chị Huỳnh Thị C và anh Nguyễn Văn G có một con C tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2010. Chị Huỳnh Thị C được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Huỳnh N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị C xin ly hôn với anh G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị C. Chị Huỳnh Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 40/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30-7-2018
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
giữa chị C với anh G”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiền.

2. Ông Phạm Văn Nam.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị C, sinh năm: 1990, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm: 1986, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 4 năm 2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Huỳnh Thị C trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn G tự nguyện C sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng thời gian. Sau đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh G hay chơi đánh bạc, không lo làm việc để chăm lo cho gia đình. Chi đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh G vẫn không thay đổi. Chị và anh G không còn sống C với nhau từ năm 2011 cho đến nay. Nhận thấy thời gian không sống C với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục C sống với nhau nên chị xin được ly hôn với anh G.

Trong thời gian C sống, chị và anh G có 01 con C tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2010, hiện tại đang sống C với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh G cấp dưỡng cho con.

Chị và anh G không có tài sản C, không có nợ C.

Do bị đơn là anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Kiểm sát viên trình bày ý kiến phát biểu về nội dung và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

ư]

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự: Chị Huỳnh Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị với anh Nguyễn Văn G. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

Anh Nguyễn Văn G là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh G.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị C và anh Nguyễn Văn G C sống có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị C và anh G được xem là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị C cho rằng chị và anh G mâu thuẫn do anh G không chịu làm việc để chăm lo cho gia đình, chị và anh G không còn sống C với nhau từ năm 2011 cho đến nay, không ai quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục C sống với nhau nên chị xin ly hôn với anh G. Tòa án đã triệu tập anh G đến để hòa giải, tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ nhưng anh G không đến.

Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân của chị C và anh G đã trầm trọng, đời sống C của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C để giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.

Về con C: Chị C và anh G có 01 con C tên là Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2010. Chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh G cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu N đang sống với chị C và cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị. Do đó, để đảm bảo tâm sinh lý của cháu N được ổn định nên cần giao cháu cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với việc cấp dưỡng cho con do chị C không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản C, nợ C: Chị C khai chị và anh G không có tài sản C, không có nợ C nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị C phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị C. Chị Huỳnh Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.

Về con C: Chị Huỳnh Thị C và anh Nguyễn Văn G có một con C tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2010.

Chị Huỳnh Thị C được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Huỳnh N.

Ghi nhận chị Huỳnh Thị C không yêu cầu anh Nguyễn Văn G cấp dưỡng cho con.

Anh Nguyễn Văn G được quyền thăm nom con C, không ai được quyền cản trở anh thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản C và nợ C: Chị Huỳnh Thị C trình bày không có tài sản C, không có nợ C nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016432 ngày 09 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M. Chị Huỳnh Thị C đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ