- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Bức và đồng bọn - Bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 194 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 20 Bộ luật hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2017/HSST Ngày 18/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh .
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Long
2. Ông Ngô Xuân Hùng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thi ̣ Hoài Thu - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Lai Châu tham gia phiên toà : Bà
̉
Vùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tinh Lai Châu xét̉
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2017/HSST – QĐ ngày 04/8/2017 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Thị B, sinh năm 1970 tại huyện TĐ, LC.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản C, thị trấn TĐ, huyê ̣n TĐ, tỉnh LC; Dân tô ̣c : Giấy; Quốc ti ̣ch : Viê ̣t Nam ; Tôn giáo : không; Nghề nghiê ̣p : làm ruô ̣ng; Trình độ học vấn : không biế t chữ ; Con ông Hoàng Văn Ph (đa chết) và bà̃ Tòng Thị Th , sinh năm 1933; có chồng : Vàng Văn S , sinh năm 1964 và con: bị cáo có 03 con, con lớ n sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1993 (đa chết ). Hiệñ chồng và các con của bị cáo cư trú tại bản C , thị trấn T Đ, huyê ̣n T Đ, tỉnh La i Châu. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: từ ng có 01 tiền án đa đượ̃
c xóa án tich
́ tại bản án số 27/2007/HSST ngày 18/12/2007 TAND tinh L C xử
̉ pha ̣t 05 năm tù về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy” .
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2017 tại Trại tạm giam Công an tỉ nh LC đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Doan Thi ̣ H, sinh năm 1974 tại PT, LC.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở t rước khi bị bắt : Bản C, thị trấn T Đ, huyê ̣n TĐ, tỉnh Lai Châu; Dân tô ̣c : Hoa; Quốc ti ̣ch : Viê ̣t Nam ; Tôn giáo : không; Nghề nghiê ̣p : làm ruộng ; Trình độ văn hóa : không biết chữ ; Con ông Doan Lao S (là bố đẻ, đa ̃ chết), Trần Văn L ( là bố dượng, đa chết) và con bà Hồ Chữ
̉ D, sinh năm 1953; có chồng: Trần Văn S , sinh năm 1971 và con : bị cáo có 03 con, con lớ n sinh năm 1994 và nhỏ nhất sinh năm 2000. Hiện chồng và các con của bị cáo cư trú tại tại bản Cò Lá, thị trấn TĐ, huyê ̣n TĐ, tỉnh LC. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2017 tại Trại tam giam C ông an tinh L C̉ đến nay có mặt tại phiên tòa .
3. Họ và tên : Hảng A G (Tên go ̣i khác : Hảng A H ), sinh năm 1992 tại MCC, YB.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trướ c khi bị bắt: bản S, xã L, huyện MCC, tỉnh YB. Dân tô ̣c : Mông; Quốc ti ̣ch : Viê ̣t Nam ; Tôn giáo : Không; Nghề nghiê ̣p : Làm ruô ̣ng; Trình độc văn hóa : 12/12; Con ông Hảng A N (đa chết) và bà Lý Thị S ,̃ sinh năm 1973; có vợ: Mùa Thị T sinh năm 1997 và con: Bị cáo có 02 con, lớ n nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016. Hiện vợ và các con của bị cáo cư trú tại: bản T, xã L, huyê ̣n MCC, tỉnh YB. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2017 tại Trại tạm giam C ông an tinh LC̉ đến nay có mặt tại phiên tòa .
* Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan: Ông Trần Văn S, sinh năm 1971. Địa chỉ: bản C, thị trấn TĐ, huyê ̣n TĐ, tỉnh LC, có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối th áng 02/2017, mô ̣t ngườ i đàn ông dân tô ̣c Mông ở huyê ̣n M K, tỉnh L C (không rõ lai li ̣ch , đi ̣a chỉ ) gọi đ iê ̣n thoa ̣i cho Hoàng Thi ̣ B hỏi mua Heroin. B đồng ý tim mua Heroin và he ̣n khi nào có Heroin se thông bã
́o la ̣i sau .
̀ Hai bên thỏa thuâ ̣n giá mua Heroin là
21.000.000 đồng/cây Heroin . Đến ngày 20/3/2017, Bứ c sang nhà Doan Thi ̣ H ở cùng bản C , thị trấn T Đ, huyê ̣n T Đ, tỉnh LC hỏi xem H có biết ai bán Heroin không thi giớ i thiê ̣u cho B . Hoa đồng ý và go ̣i
̀
điê ̣n thoa ̣i cho con trai nuôi của Hoa là Hảng A G trú tại bản T, xã L, huyê ̣n MCC, tỉnh YB hỏi mua Heroin . Sau đó Hoa đưa điện thoại của H cho B nói chuyện vớ i G. Qua nói chuyê ̣n , B đă ̣t mua của G 02 cây Heroin vớ i giá 20.000.000 đồng/01 cây. G đồng ý và hẹn khi nào có Heroin thì s ẽ mang cho B.
Ngày 25 tháng 3 năm 2017, G gọi điện thoại cho người đàn ông dân tô ̣c Thái
tên Q ở xã N C, huyê ̣n M L, tỉnh S L đă ̣t mua Heroin , Q đồng ý và he ̣n đi ̣a điểm giao di ̣ch ta ̣i khu vực đèo thuô ̣c x ã N K, huyê ̣n M CC, tỉnh Y B. Tại điểm hẹn , G mua được 01 gói Heroin của Q có trọng lượng 1,6 cây vớ i giá 27.000.000 đồng. Sau đó, G mang Heroin về nhà cất giấu trong cốp xe không cho ai biết .
Khoảng 12 giờ sáng 26/3/2017, G để gói Heroin trong cốp xe và điều khiển
xe máy nhan hiê ̣̃
u HONDA WAVE ANPHA màu sơn đỏ - đen - bạc, BKS: 21E1-047.87 của G đi huyê ̣n TĐ, tỉnh LC. Khi đi đến bến xe khách huyê ̣n Th U, G gử i xe máy ta ̣i bến xe khách và tiếp t ục bắt xe khách đi huyện T Đ, tỉnh L C. Khoảng 17 giờ cùng ngày G đến nhà H, do có nhiều ngườ i nên G bảo với H và B là G không mang Heroin theo ngườ i . Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 27/3/2017, G đưa cho H gói Heroin bảo H mang sang cho B. Do không biết tro ̣ng lượng ch ính xác là bao nhiêu nên B bảo H về đón G sang nhà B cân Heroin. Tại đây, B và G cân gói Heroin được 1.6 cây Heroin. Sau khi cân xong, H chở G về nhà còn B gọi điện thoại cho người đàn ông dân tộc Mông đặt mua Heroin thông báo đã có Heroin
, hai bên thỏa th uâ ̣n giá 21.000.000 đồng/cây và địa điểm giao dịch tại thuỷ đ iê ̣n CV12. Do không biết đ i xe nên B nhờ H chở đi . H lấy xe máy nhan hiê ̣̃
u YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen mang BKS : 25N1 - 020.80 của chồng H là Trần Văn S chở B đi bán Heroin . Khi đi đến khu vực gần điểm hẹn H và B dừ ng la ̣i giấu Heroin ta ̣i gốc cây ven đườ ng cách thủy điê ̣n C V 12 khoảng 500 m và đi gă ̣p ngườ i đàn ông mua Heroin . B trực tiếp đi giao dịch còn H đứ ng ở trên đườ ng đợi B.Tại điểm hẹn B thoả thuận 1,6 cây Heroin bán vớ i giá 33.500.000 đồng. Sau đó , B đi ra chỗ H đứ ng đợi bảo H đi lấy Heroin về cho B . H đồng ý và điều khiển xe máy quay lại chỗ giấu Heroin . Mô ̣t lúc sau H quay la ̣i đưa cho B gói Heroin . B cầm Heroin quay la ̣i chỗ ngườ i đàn ôn g đang đứ ng đợi . Tại đây, B mở gói Heroin cho ngườ i đàn ông xem và thử Heroin bằng hinh thứ c hit . Khi cả đang giao dịch
̀
́ thì bị tổ công tác , Công an tinh L C và Công an huyê ̣̉
n T Đ phát hiện, lợi dụng sơ hở của tổ công tác, ngườ i đàn ông mua He roin bỏ cha ̣y thoát . Còn B, H bị bắt giữ, kiểm tra phát hiê ̣n bụi cây ngay trướ c mă ̣t B ngồi (cách 0,6 mét) có 01 gói chất bô ̣t khô ép màu trắng . B, H khai nhâ ̣n gói vâ ̣t chứ ng trên là Heroin của B , H đang bán cho ngườ i đàn ông vừ a bỏ cha ̣y thoát . Nguồn gốc số Heroin trên do B mua của Hảng A G trú tại bản T, xã L, huyê ̣n M CC, tỉnh YB. Mở rô ̣ng điều tra cùng ngày 27/3/2017 CQĐT đa bẵ ́t khẩn cấp Hảng A G . Già đã khai nhận số Heroin B và H mang đi bán là của G bán cho B.
Kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 151/GĐ - KTHS ngày 08/4/2017 của Phòng kỹ thuật
hình sự - Công an tinh Lai Châu , kết luâ ̣̉
n: Vâ ̣t chứ ng thu giữ của Ho àng Thị B và Doan Thi ̣ H có tổng trọng lượng là 58,16 gam. Các mẫu vật gửi đến giá m đi ̣nh đều là Heroin.
Bản cáo trạng số 13/KSĐT -MT ngày 19/7/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy bố các bị cáo Hoàng Thị B, Doan Thị H, Hảng A G về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại điện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đưa ra các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 3 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46, điều 20, điều 53 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Thị B đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 đến 17 năm tù; áp dụng điểm b khoản 3 điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 20; điều 53 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Doan Thị H và bị cáo Hảng A G, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 15 đến 16 năm tù; bị cáo G từ 16 đến 17 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự; điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự để tiêu hủy 57,51 gam Heroin còn lại sau giám định, một túi nilon màu xanh đã qua sử dụng; trả lại cho Doan Thị H một chứng minh nhân dân số 045051779 mang tên Doan Thị H do công an tỉnh LC cấp ngày 20/2/2017; trả lại cho bị cáo Hảng A G một chứng minh nhân dân số 061010194 mang tên Hảng A G do công an tỉnh YB cấp ngày 3/8/2011 và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 002299 mang tên Đặng Văn C không liên quan đến vụ án; trả lại cho anh Trần Văn S một xe mô tô cũ nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen BKS 25N1- 020.80, số khung: RLCS5C640CY965086, số máy: 5C64 - 965097, yếm bên phải bị vỡ, có gương bên trái kèm theo giấy đăng ký xe số 0009688 mang tên Trần Văn S và một chìa khóa xe; tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước đối với một chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy máy móc bên trong, khong kiểm tra số máy, thẻ sim thu giữ của bị cáo H và một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, không kiểm tra số máy, thẻ sim, số seri thu giữ của bị cáo B và một điện thoại di động mặt trước màu đen, màn hình đã bị vỡ, mặt sau màu trắng có chữ IPHONE; số IMEL 012652009172358 kèm 01 sim trên sim có chữ Vinaphone, sim đã bị cắt thu giữ của bị cáo G; trả lại một mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn Đỏ - đen - bạc BKS 21E1- 047.87, số khung RLHHC 1201BY318338, số máy HC12E-3118366, xe không có gương bên phải, hai bên cánh yếm bên phải và bên trái đều bị vỡ, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng cho bị cáo Hảng A G.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Người bào chữa cho cáo các bị cáo đề nghị: các bị cáo đều thật thà khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nên hiểu biết và nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xử các bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo cũng nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự cho bị cáo B là không phù hợp vì bị cáo B đã từng bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” nên không thể áp dụng tình tiết là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nên hiểu biết và nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TĐ, Cơ quan điều tra Công an tỉnh LC, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, người bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà thống nhất với nhau, phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 27/3/2017 tại khu vực thuỷ điện CV 12 thuộc địa phận bản CV 12, xã S, huyện TĐ, tỉnh LC bị cáo Hoàng Thị B và Doan Thị H có hành vi bán trái phép 58,16 gam Hêroin cho một đối tượng không biết tên. Bị cáo Hoàng Thị B khai nhận nguồn gốc số Heroin trên là do bị cáo nhờ bị cáo Doan Thị H hỏi mua của Hảng A G là con nuôi của bị cáo Doan Thị H. Sau khi thỏa thuận mua bán với Hảng A G xong thì bị cáo Bức đã gọi điện thoại cho người đàn ông dân tộc Mông đã đặt mua Heroin với giá 21.000.000 đồng/ cây và địa điểm giao dịch tại thủy điện CV12. Do không biết đi xe máy nên bị cáo Bức đã nhờ bị cáo H chở đi bán Heroin bằng chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen BKS 15N1 - 020.80 của chồng H là Trần Văn S. Khi đang giao dịch tại điểm hẹn thì bị tổ công tác Công an tỉnh LC và công an huyện TĐ phát hiện. Hành vi phạm tội như đã nêu trên của các bị cáo B, H, G (H) là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. ….
3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.
b, Hêroin có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ mà các bị cáo đã gây ra theo quy định của điều luật. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:
Về nhân thân, đối với bị cáo Hảng A G, bị cáo Doan Thị H chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Hoàng Thị B năm 2007 bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” nhưng đã được xoá án tích, bản thân không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Doan Thị H và bị cáo Hảng A G phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số; bị cáo Hảng A G sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự cho bị cáo Già và bị cáo Hoa.
Xét vai trò của các bị cáo: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm vì mục đích hưởng lợi bất chính. Tuy nhiên, bị cáo B là người chủ động, bị cáo H với vai trò giúp sức, bị cáo G tích cực thực hiện tội phạm nên Hội đồng xét xử cũng đánh giá tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, nhưng do các bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 57,51 gam Heroin còn lại sau giám định, một túi nilon màu xanh đã qua sử dụng.
Một chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy máy móc bên trong, khong kiểm tra số máy, thẻ sim thu giữ của bị cáo Hoa; một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, không kiểm tra số máy, thẻ sim, số seri thu giữ của bị cáo Bức; một điện thoại di động mặt trước màu đen, màn hình đã bị vỡ, mặt sau màu trắng có chữ IPHONE; số ID 2010TJ3612 kèm 01 sim trên sim có chữ Vinaphone, sim đã bị cắt thu giữ của bị cáo Già. Xét đây đều là những phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho Doan Thị H một chứng minh nhân dân số 045051779 mang tên Doan Thị H do công an tỉnh LC cấp ngày 20/2/2017.
Trả lại cho bị cáo Hảng A G một chứng minh nhân dân số 061010194 mang tên Hảng A G do công an tỉnh YB cấp ngày 3/8/2011, một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 002299 mang tên Đặng Văn C không liên quan đến vụ án.
Một xe mô tô cũ nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen BKS 25N1-020.80, số khung: RLCS5C640CY965068, số máy: 5C64 - 965097, yếm bên phải bị vỡ, có gương bên trái kèm theo giấy đăng ký xe số 000968 mang tên Trần Văn S và chìa khóa là chiếc xe mà bị cáo Doan Thị H dùng chở bị cáo B để thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên toà anh S đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh chiếc xe trên vì vợ anh là bị cáo Hoa dùng chiếc xe trên chở bị cáo B đi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng anh S không biết. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cần trả lại cho anh Trần Văn S.
Một mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn Đỏ - đen - bạc BKS 21E1-047.87, số khung RLHHC 1201BY318338, số máy HC12E-3118366, xe không có gương bên phải, hai bên cánh yếm bên phải và bên trái đều bị vỡ, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Hảng A G. Tại phiên toà bị cáo Già cùng vợ là chị Mùa Thị T đều khẳng định chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng, mua bằng tiền hai vợ chồng làm ăn tích cóp mà có và là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các nội dung liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông ở huyện MK, tỉnh LC là người mua Hêroin của bị cáo B vào ngày 27/3/2017 và người đàn ông dân tộc Thái tên Q ở xã N, huyện ML, tỉnh SL là người bán Hê roin cho bị cáo G vào ngày 25/3/2017. Do các bị cáo không biết rõ lai lịch cụ thể của những người trên nên Cơ quan điều tra không xác định được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đủ cơ sở để xem xét.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị B, Doan Thị H, Hảng A G (Hảng A H) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; điều 20; điều 53 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị B 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2017.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 20; điều 53 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hảng A G 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/20117.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 20; điều 53 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Doan Thị H 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2017.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 57,51 gam Heroin còn lại sau giám định; một túi nilon màu xanh đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước một chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Masstel đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy máy móc bên trong, khong kiểm tra số máy, thẻ sim thu giữ của bị cáo Doan Thị H; một điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu NOKIA đã cũ, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, không kiểm tra số máy, thẻ sim, số seri thu giữ của bị cáo Hoàng Thị B; một điện thoại di động mặt trước màu đen, màn hình đã bị vỡ, mặt sau màu trắng có chữ IPHONE; số ID 2010TJ3612 kèm 01 sim trên sim có chữ Vinaphone, sim đã bị cắt thu giữ của bị cáo Hảng A G.
Trả lại cho bị cáo Doan Thị H một chứng minh nhân dân số 045051779 mang tên Doan Thị H do công an tỉnh LC cấp ngày 20/2/2017.
Trả lại cho bị cáo Hảng A G một chứng minh nhân dân số 061010194 mang tên Hảng A G do công an tỉnh YB cấp ngày 3/8/2011, một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002299 mang tên Đặng Văn C .
Trả lại cho ông Trần Văn S, sinh năm 1971, địa chỉ bản C, thị trấn TĐ, huyện TĐ, tỉnh L C. Một xe mô tô cũ nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen BKS 25N1- 020.80, số khung: RLCS5C640CY965068, số máy: 5C64 - 965097, yếm bên phải bị vỡ, có gương bên trái kèm theo giấy đăng ký xe số 000968 mang tên Trần Văn S và chìa khóa xe.
Trả lại cho bị cáo Hảng A G (Hảng A H) một mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn Đỏ - đen - bạc BKS 21E1- 047.87, số khung RLHHC 1201BY318338, số máy HC12E-3118366, xe không có gương bên phải, hai bên cánh yếm bên phải và bên trái đều bị vỡ, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.
( Tình trạng vật chứng trên như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an tỉnh Lai Châu và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu ngày 28/7/2017).
3. Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Luật phí, lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 các bị cáo Hoàng Thị B, Doan Thị H, Hảng A G (Hảng A H) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Tòa án cấp trên kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Các bị cáo; - Người bào chữa; - Sở tư pháp tỉnh; - Cục THADS tỉnh; - Trại tạm giam; - Công an tỉnh Lai Châu (PC47); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dƣơng Thị Tuyết Thanh |