vanban.org

Bản án 40/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Nguyễn Thị Anh Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải trả cho bà Hồ Thị L số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Thị L- Nguyễn Thị Anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Nguyễn Thị Anh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2017/DS-ST
Ngày: 28/9/2017
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hồng Điều.

2. Ông Vũ Văn Hoàng.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2017/TLST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2017 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2017/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2017/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1955.

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1974.

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà L có mặt; bà Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 03/7/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị Anh Đ quen biết nên ngày 08/11/2016 bà Đ vay của bà số tiền là 8.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 5%/ngày, thời hạn vay là 17 ngày. Khi vay tiền hai bên có làm “Giấy mượn tiền”.

Bà Đ trả lãi được số tiền 200.000 đồng thì ngưng không trả lãi nữa. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà Đ trả nợ nhưng bà Đ không thực hiện.

Nay bà yêu cầu bà Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 8.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Sự việc đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Đ trả cho bà số tiền 8.000.000 đồng. Bà Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Hồ Thị L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ trả số tiền 8.000.000 đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu của bà L yêu cầu bà Đ phải trả số tiền nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào “Giấy mượn tiền” ngày 08/11/2016 do bà L cung cấp thể hiện ngày 08/11/2016 bà Đ có vay của bà L số tiền 8.000.000 đồng, nên giữa bà Hồ Thị L và bà Nguyễn Thị Anh Đ đã xác lập hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005. Sau khi vay tiền bà Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là đã vi phạm vào hợp đồng các bên đã xác lập.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý kiến về việc vay nợ nêu trên. Do đó, căn cứ vào “Giấy mượn tiền” ngày 08/11/2016 và lời trình bày của bà L xác định bà Đ đã vay của bà L số tiền 8.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 5%/ngày, bà Đ trả lãi cho bà L được số tiền 200.000 đồng thì bà Đ ngưng không trả lãi và không trả số tiền nợ gốc cho bà L là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu của bà L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về tiền lãi: Bà L không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 8.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải hoàn trả cho bà Hồ Thị L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Nguyễn Thị Anh Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải trả cho bà Hồ Thị L số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu 400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Hồ Thị L số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005493 ngày 20/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ