- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Hong Y - Le Khac T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 3996/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng
2. Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1217/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5756/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1980
Thường trú: Đường P, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Đường P, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Khắc T, sinh năm 1979
Thường trú: phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Cư trú: Đường B, Khu phố T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông Lê Khắc T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 07/01/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tự lập tại quận Bình Thạnh. Thời gian đầu cuộc sống chung hạnh phúc bình thường. Đến năm 2007, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, có lúc xảy ra xô xát, đánh nhau. Vợ chồng hoàn toàn không tìm được tiếng nói chung. Sau nhiều lần vợ chồng cùng nhau hòa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả, từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không ai có thiện chí hàn gắn, hòa giải. Hiện nay, bà Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế. Do đó, bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà Y và ông T có 03 con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 16/8/2002 (đã thành niên), Lê N, sinh ngày 06/02/2007 và Lê Nhật C, sinh ngày 14/01/2019. Bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê N và Lê Nhật C, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê N và Lê Nhật C. Riêng con chung tên Lê Nhật M đã thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Bị đơn ông Lê Khắc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.
3. Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Y có đơn xin vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án và xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Nhật và Lê Nhật C, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê N và Lê Nhật C. Riêng con chung tên Lê Nhật M đã thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ông Lê Khắc T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
4.1 Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
4.2 Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Hồng Y yêu cầu được ly hôn với ông Lê Khắc T. Theo Kết quả xác minh của Công an phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông T hiện đang ở tại Đường B, Khu phố T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Nguyên đơn bà Y có đơn xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Y, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Lê Khắc T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/01/2002 và được Ủy ban nhân dân phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 001/02, quyển số 01. Do đó, căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Xét thấy, trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà Y cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông T vì tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống hôn nhân đã không còn tồn tại trên thực tế. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Điều này cho thấy, vợ chồng bà Y, ông T đã không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương lẫn nhau. Cuộc sống vợ chồng giữa hai bên đã không còn tồn tại trên thực tế. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà Y và ông T đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y.
Về con chung:
Căn cứ Giấy khai sinh đăng ký ngày 16/12/2003, ngày 19/3/2007 và Trích lục khai sinh ngày 28/02/2019 do Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Bình Thạnh cấp, đủ cơ sở xác định bà Y và ông T có 03 con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 16/8/2002, Lê Nhật, sinh ngày 06/02/2007 và Lê Nhật C, sinh ngày 14/01/2019. Con chung tên Lê Nhật M đã thành niên.
Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê N và Lê Nhật C, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Nhật và Lê Nhật C. Đồng thời, cháu Lê N có nguyện vọng được ở với mẹ. Ông T không có ý kiến, yêu cầu về việc nuôi các con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Y, giao 02 con chung tên Lê N và Lê Nhật C cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Y không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- Căn cứ Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Lê Khắc T.
1.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Lê Khắc T có 03 con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 16/8/2002, Lê N, sinh ngày 06/02/2007 và Lê Nhật C, sinh ngày 14/01/2019. Con chung tên Lê Nhật M đã thành niên.
Giao con chung tên Lê N và Lê Nhật C cho bà Nguyễn Thị Hồng Y trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Hồng Y không yêu cầu ông Lê Khắc T cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê N và Lê Nhật C.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0003430 ngày 19 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Hồng Y đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Lê Khắc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - VKSND TP. Thủ Đức, TPHCM; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức, TPHCM; - Đương sự; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Châu |