vanban.org

Bản án 399/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận bà Tô Thị Ngọc Đ với ông Nguyễn Văn M là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 31/5/2001 (đã trưởng thành). Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận bà Tô Thị Ngọc Đ với ông Nguyễn Văn M là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 399/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 08 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

2. Ông Đặng Anh Đoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 31 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 07 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa: 179/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/08/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tô Thị Ngọc Đ, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ A ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ A ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Tô Thị Ngọc Đ trình bày:

Bà Tô Thị Ngọc Đ với ông Nguyễn Văn M tự tìm hiểu và đi đến sống chung như vợ chồng vào năm 2000, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, ông M có người phụ nữ khác, nên giữa bà Đ, ông M không sống chung từ năm 2022 cho đến nay. Hai bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông M.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 31/5/2001 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn M đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông M đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.

Bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Tô Thị Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn M, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn M với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông M không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của ông M không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn M.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Tô Thị Ngọc Đ với ông Nguyễn Văn M là tự nguyện tự và sống chung như vợ chồng vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, nên giữa bà Đ và ông M không sống chung từ năm 2022 cho đến nay, do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Do đó căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà Đ với ông M là vợ chồng là phù hợp.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 31/5/2001(đã trưởng thành), nên không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Tô Thị Ngọc Đ được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận bà Tô Thị Ngọc Đ với ông Nguyễn Văn M là vợ chồng.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Như Ý, sinh ngày 31/5/2001 (đã trưởng thành).

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Tô Thị Ngọc Đ phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006204, ngày 01/06/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ