vanban.org

Bản án 399/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 399/2019/DS-ST

Ngày: 18/11/2019

V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Trân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Kim Hoàng 2. Bà Lê Thị Kim Lệ Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 387/2018/TLST-DS, ngày 25/5/2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2019/QĐXX-ST ngày 07 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 484/2019/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C Trụ sở: A Nguyễn Thị Minh K, Phường 5, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Bà Hứa Thị Phương K- nhân viên. Địa chỉ liên lạc: B Cách Mạng Tháng 8, phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 962/UQ-QLN.18 ngày 10/9/2018) (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1977 Địa chỉ: C Lê Quốc H, Phường 12, Quận 4, TP. Hồ Chí Minh (Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Taïi ñôn khôûi kieän ñeà ngaøy 16/4/2018 cuûa Ngân hàng thương mại cổ phần Á C vaø caùc lôøi khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cuûa ngöôøi ñaïi dieän uûy quyeàn là bà Hứa Thị Phương K trình bày: Ngân hàng TMCP Á Châu đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thanh T theo Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (TK vay số: 211791609) ngày 20/02/2016, chi tiết như sau:

- Số tiền vay: 71.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi mốt triệu đồng chẵn) - Thời hạn vay: 60 tháng (từ ngày 20/02/2016 đến ngày 20/02/2021) - Mục đích: UIL – Tiêu dùng tín chấp – Hỗ trợ tiêu dùng – Tiêu dùng - Phương thức cho vay: Cho vay từng lần - Lãi suất trong hạn: 17.00%/năm ( tính theo dư nợ thực tế) - Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn Trong quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngày 24/08/2017, Ngân hàng TMCP Á C đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 23/09/2017 Ngân hàng TMCP Á C đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Đến ngày 18/11/2019, bà Nguyễn Thị Thanh T đã trả được tổng cộng 56.050.000 đồng (trong đó bao gồm: đã trả nợ gốc: 38.067.854 đồng, đã trả nợ lãi: 16.782.146 đồng, đã trả lãi phạt: 1.200.000 đồng). Như vậy tính đến ngày 18/11/2019, bà T còn nợ Ngân hàng các khoản sau: - Vốn: 32.932.146 đồng - Lãi trong hạn: 915.730 đồng - Lãi quá hạn: 22.736.336 đồng - Lãi phạt trễ kỳ: 200.000 đồng Tổng cộng: 56.784.212 đồng Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án nhân dân Quận 4 buộc bà Nguyễn Thị Thanh T trả cho Ngân hàng tổng dư nợ còn thiếu tính đến ngày 18/11/2019 là 56.784.212 đồng (trong đó bao gồm vốn gốc: 32.932.146 đồng, lãi trong hạn: 915.730 đồng, lãi quá hạn: 22.736.336 đồng, phạt trễ kỳ: 200.000 đồng). Thời hạn thanh toán: Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 19/11/2019 đến ngày bà Nguyễn Thị Thanh Tâm trả dứt nợ gốc, theo thứ tự sau: vốn gốc, phạt chậm trả, lãi quá hạn, lãi trong hạn. Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Thanh T như: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, các Thông báo về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng bà Nguyễn Thị Thanh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không nộp tài liệu chứng cứ và không đến Tòa án lần nào, do đó Tòa án không ghi được lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh T, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thanh Tâm. Ngày 24/10/2019 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Hứa Thị Phương K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đồng thời giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh Tâm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn là bà Hứa Thị Phương K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (TK vay số: 211791609) ngày 20/02/2016 bà Nguyễn Thị Thanh T đã vi phạm cam kết thanh toán đã ký với nguyên đơn. Khoản nợ vay tiêu dùng đã quá hạn thanh toán. Nguyên đơn đã thông báo và liên hệ nhiều lần nhưng bà T vẫn chưa trả nợ. Do đó, ngày 24/08/2017, Ngân hàng TMCP Á C đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 23/09/2017 Ngân hàng TMCP Á C đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Từ ngày 20/2/2016 đến ngày 18/11/2019 bà T đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 56.050.000 đồng. Do bà Nguyễn Thị Thanh T vi phạm nghĩa vụ, thời hạn thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Cho nên, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T thanh toán toàn bộ số tiền nợ với thời hạn trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về thủ tục tố tụng: Xét, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (TK vay số: 211791609) ngày 20/02/2016 với mục đích sử dụng vốn là tiêu dùng, như vậy đây là vụ án dân sự; Bà Nguyễn Thị Thanh T có nơi cư trú tại Quận 4, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Hứa Thị Phương K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung. Về yêu cầu khởi kiện: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C xuất trình là bản chính Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (Số tài khoản vay: 211791609) ngày 20/02/2016 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Thanh T có cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị Thanh T có ký kết Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (Số tài khoản vay: 211791609) ngày 20/02/2016 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á C với nội dung đúng như nguyên đơn trình bày. Việc thỏa

thuận giữa các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 18/11/2019, bà Nguyễn Thị Thanh T đã trả được tổng cộng 56.050.000 đồng (trong đó bao gồm: nợ gốc: 38.067.854 đồng, nợ lãi: 16.782.146 đồng, phạt: 1.200.000 đồng). Trong quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị Thanh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngày 24/08/2017, Ngân hàng đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 23/09/2017 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Như vậy, bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay và lãi hàng tháng mà các bên đã thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 ngày 20/02/2016, cho nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T thanh toán toàn bộ số tiền nợ với thời hạn trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; - Căn cứ vào Điều 290, Điều 471, Điều và 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; - Căn cứ vào Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; - Căn cứ khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. -Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. - Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Á C. Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 18/11/2019 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng trả góp số SGN.CN.04.200216 (Số tài khoản vay: 211791609) ngày 20/02/2016 là 56.784.212 đồng (trong đó bao gồm vốn gốc: 32.932.146 đồng, lãi trong hạn: 915.730 đồng, lãi quá hạn: 22.736.336 đồng, phạt trễ kỳ: 200.000 đồng. Thời hạn thanh toán: một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật Kể từ ngày 19/11/2019 trở đi bà Nguyễn Thị Thanh T còn phải trả lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi bà T thực trả hết nợ vốn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á C theo thứ tự sau: vốn gốc, phạt chậm trả, lãi quá hạn, lãi trong hạn.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn được quyền có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án. Thi haønh taïi Cô quan thi haønh aùn daân söï coù thaåm quyeàn 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.839.211 (Hai triệu tám trăm ba mươi chín nghìn hai trăm mười một) đồng. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 1.297.000 (Một triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á C đã nộp theo biên lai số AG/2014/0009043 ngày 17/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. 3. Về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân và quyền kháng cáo của các đương sự: Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 có quyền kháng nghị, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Bà Nguyễn Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ