vanban.org

Bản án 398/2020/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/05/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn M. Tuyên xử: Sửa bản án sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Hồ Thanh T-Tô Văn M"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 398/2020/DS-PT
Ngày: 26/5/2020

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Tường

Bà Trần Thị Kim Quy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Thanh Hồng – Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2020/TLPT-DS

ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do Bản án số 517/2019/DS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân

huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1956/2020/QĐPT-DS ngày 24

tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4471/2020/QĐPT-DS

ngày 13 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Thanh T, sinh năm 1968.

Địa chỉ thường trú: Số 13/7 đường V, khu phố 5, phường P, thành phố

T, tỉnh B.

Địa chỉ tạm trú: Số 28 tỉnh lộ 8, ấp 1, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Thái Thu L, sinh năm

1966. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 8 đường Ng, khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh B.

Là người đại diện theo ủy quyền. (Giấy ủy quyền số công chứng

00000403, quyển số 01/TP/CC-SCC/UQ do Văn phòng Công chứng Hồ Nhật

Tú Trinh, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 10/01/2020)

2. Bị đơn: Ông Tô Văn M, sinh năm 1955.

Địa chỉ: Số 20 đường số 22, ấp 2, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Đình A, sinh năm

1990; Địa chỉ: Số 24 đường D4, Khu dân cư J, phường P, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ông Tô Tấn Nh, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Là người đại diện theo ủy quyền. (Giấy ủy quyền số công chứng

00004318, quyển số 05TP/CC-SCC/UQ do Văn phòng Công chứng Hồ Nhật Tú Trinh, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 11/5/2020)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Kim

H – Công ty Luật TNHH Hoàng Trần và Cộng sự – thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số 24 đường D4, Khu dân cư J, phường P, QuậnV, Thành phố

Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Hoàng Mai Th, sinh năm 1969. (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Số 13/7 đường V, khu phố 5, phường P, thành phố

T, tỉnh B.

Địa chỉ tạm trú: Số 28 tỉnh lộ 8, ấp 1, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1956. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 20 đường số 22, ấp 2, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh.

4. Người làm chứng: Ông Lữ Đ, sinh năm 1972. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 9, ấp 3, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Hồ Thanh T và bị đơn ông Tô

Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

Trong Đơn khởi kiện ngày 23/11/2018, Đơn khởi kiện bổ sung ngày

31/01/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Minh T trình bày: Ông T (tên thường gọi là ông Q) và ông M (tên thường gọi là S) là bạn bè, thường đi chơi với nhau và cùng sống ở xã T, huyện C. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 30/12/2017, ông T có cùng ông M dự đám cúng đình ở Đình L thuộc ấp 3, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và cùng ngồi chung bàn với nhau. Trong bàn, ngoài hai ông còn có nhiều người khác trong đó có ông

Lữ Đ. Lúc chuẩn bị ra về, người bán vé số tên Nguyễn Thị M tới mời ông Lữ

Đ mua 04 tờ vé số có cùng dãy số 648470 của đài Thành phố Hồ Chí Minh xổ

vào chiều ngày 30/12/2017. Ông Đ cầm 04 tờ vé số xem xong mua 02 tờ, còn

02 tờ ông Đ nói “số này đẹp, anh mua hai tờ đi”. Ông T mua 02 tờ rồi đưa cho

ông M và nói “chú S giữ, chiều trúng báo liền”. Ông M cất 02 tờ vé số vô túi

rồi cùng ông T ra về. Đến khuya ông hay tin hai tờ vé số ông đưa cho ông M

giữ trúng giải đặc biệt, sáng ngày 31/12/2017 ông đến nhà ông M báo tin và

nhận lại 02 tờ vé số đã trúng. Tuy nhiên ông M nói 02 tờ vé số ông gửi không

trúng. Cùng ngày 31/12/2017, ông Đ gặp ông xác nhận hai tờ vé số mà ông Đ

đưa cho ông đều trúng giải đặc biệt.

Ông đã nhiều lần yêu cầu ông M trả lại cho ông 02 tờ vé số trúng giải

đặc biệt nhưng ông M không đồng ý. Nay, ông yêu cầu ông M trả lại cho ông

giá trị của 02 tờ vé số trúng giải đặc biệt là 3.600.000.000 đồng, trả 01 lần

ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Tô Văn M trình bày: Ông và ông T có cùng đi đám cúng

đình với nhau vào tháng 12/2017. Ông có mua vé số và cho ông T 01 tờ, khi

ra về ông T cho lại ông 01 tờ vé số nhưng không trúng. Nay ông T yêu cầu

ông trả lại cho ông T giá trị của 02 tờ vé số trúng giải đặc biệt là

3.600.000.000 đồng thì ông không đồng ý vì thật sự 02 tờ vé số ông T đưa

cho ông không trúng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hoàng Mai Th

trình bày: Mọi quyết định của ông Hồ Minh T là quyết định của bà, do bận

công việc nên bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện C cho bà vắng mặt trong quá

trình giải quyết vụ kiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y trình bày:

Bà là vợ ông Tô Văn M. Trong vụ kiện tranh chấp giữa ông T và ông M, bà

hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông M, ngoài ra bà không có yêu cầu gì

khác. Do bận việc nên bà xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ kiện.

Người làm chứng ông Lữ Đ trình bày: Vào ngày 30/12/2017, tại Đình

L thuộc xã T, huyện C là ngày lễ Kỳ Yên của Đình, ông có gặp ông T và ông

T cho ông 70.000 đồng để mua vé số. Người bán vé số còn 12 tờ, đầu tiên ông

mua 07 tờ chia ra cho 07 người, còn 05 tờ ông bỏ tiền ra mua, trong đó có 04

tờ cùng số seri, ông tặng lại cho ông T 02 tờ nhưng ông T không giữ mà đưa

cho ông Tô Văn M tên thường gọi là S. Chiều cùng ngày có người ở trong

đình báo là ông trúng số giải đặc biệt với dãy số là 648470 mở ngày

30/12/2017. Ông xác định 02 tờ vé số ông đưa cho ông T là 02 tờ trúng giải

đặc biệt.

Vì lý do bận công việc làm ăn nên ông xin vắng mặt trong tất cả các

buổi hòa giải và các phiên xét xử của Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 517/2019/DS-ST ngày 27/12/2019 của

Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Thanh

T buộc ông Tô Văn M trả lại cho ông T số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng); Thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền

và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 31/12/2019, bị đơn ông Tô Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản

án sơ thẩm.

Ngày 03/01/2020, nguyên đơn ông Hồ Thanh T có đơn kháng cáo toàn

bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Hồ Thanh T có bà Thái Thu L là người đại diện theo

ủy quyền trình bày: Khi đi cúng đình, ông T có mua của bà M 02 tờ vé số của Đài Thành phố Hồ Chí Minh và đưa cho ông M giữ giùm. Chiều cùng ngày, ông T được thông báo là 02 tờ vé số đó trúng giải đặc biệt. Sự việc có sự chứng kiến của bà M, ông Đ và chính ông M cũng thừa nhận giữ tờ vé số của ông T đưa. Do vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông M giao lại cho ông T giá trị của 02 tờ vé số là 3.600.000.000 đồng. Tại Bản án sơ thẩm chỉ tuyên buộc ông M phải giao lại cho ông T giá trị của 01 tờ vé số là 1.800.000.000 đồng nên ông T kháng cáo. Tuy nhiên, trong phiên tòa hôm nay ông T rút kháng cáo, đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm.

Bị đơn ông Tô Văn M có Luật sư Trần Kim H là người bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp trình bày: Người đại diện của nguyên đơn cho rằng bị đơn có nhận 02 tờ vé số từ ông T và cả 02 tờ này đều trúng giải đặc biệt là dựa trên lời khai của ông Lữ Đ và bà M. Tuy nhiên không có căn cứ nào chứng minh tờ vé số mà ông T đưa cho ông M mang số hiệu 648470. Trong quá trình làm việc tại cấp sơ thẩm, ông Lữ Đ khai chỉ trúng 02 tờ vé số giải đặc biệt nhưng kết quả xác minh tại Công ty TNHH Một thành viên Xổ Số Kiến Thiết Thành phố Hồ Chí Minh lại thể hiện ông Đ trúng 03 tờ vé số. Điều này chứng tỏ ông Đ không trung thực trong việc cung cấp lời khai. Vì thực tế ông Đ trúng thưởng 03 tờ vé số, bà Ch cùng đi cúng Đình trúng 01 tờ. Như vậy là đủ 04 tờ cùng số seri như ông Đ khai nên không thể còn 02 tờ nào khác để ông T mua và đưa cho ông M được. Tòa cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai của ông Lữ Đ và yêu cầu của nguyên đơn để xét xử là chưa thỏa đáng. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Bị đơn ông Tô Văn M có ông Nguyễn Đình A là người đại diện theo ủy

quyền trình bày: Khi đi cúng đình, ông M có mua vé số và cho ông T 01 tờ, sau đó ông T có cho lại ông M 01 tờ nhưng cả 02 tờ đều không trúng, hoàn toàn không có việc ông M giữ giùm ông T 02 tờ vé số. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu của ông T đòi ông M phải trả cho ông T giá trị của 02 tờ vé số.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hoàng Mai Th trình

bày: Bà xác định ông M có trúng thưởng giải đặc biệt, bởi có sự việc khi con

trai ông M đang lái xe trên chuyến xe chạy hợp đồng thì gia đình ông M điện

thoại cho biết là trúng số. Con trai ông M la lên và mọi người dân đi trên

chuyến xe đó đều biết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu

quan điểm:

Về tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo

quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ cho thấy có sự

việc ông M và ông T gặp nhau ở lễ cúng Đình L vào trưa ngày 30/12/2017 và

cũng có sự việc ông T mua vé số của bà M rồi đưa cho ông M giữ. Mặc dù

ông M không thừa nhận có trúng thưởng nhưng qua lời khai của nhân chứng

là ông Lữ Đ, bản tường trình của bà M là người bán vé số thì 02 tờ vé số ông

M giữ trúng thưởng giải đặc biệt là có thật. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay

ông T rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm

đối với kháng cáo của ông T, không chấp nhận kháng cáo của ông M, giữ

nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc

thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện

kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn

diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ người liên quan là bà Nguyễn Thị Y và người

làm chứng là ông Lữ Đ tham gia phiên tòa vào lúc 14 giờ ngày 13/5/2020 và

lúc 08 giờ ngày 27/5/2020 nhưng bà Y vắng mặt không lý do, còn ông Đ có

đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều

228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án

theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút đơn kháng cáo nên Hội đồng

xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn.

Xét kháng cáo của bị đơn về việc không đồng ý trả cho nguyên đơn giá

trị của 01 tờ vé số kỳ vé 17.12E7 mang số hiệu 648470 xổ ngày 30/12/2017,

Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ lời khai của ông T, ông M, ông Đ cho thấy

có sự kiện vào ngày 30/12/2017 ông T và ông M gặp nhau tại lễ cúng Đình L

và tại đây ông T có giao vé số cho ông M. Việc giao nhận giữa ông T và ông M chỉ nói miệng và không cùng nhau xác định số tờ cũng như dãy số ghi trên vé số là những con số nào. Ông T cho rằng vé số ông giao cho ông M trúng giải đặc biệt nhưng ông M phủ nhận. Như vậy, vấn đề cần làm rõ là vé số mà ông T giao cho ông M có trúng giải đặc biệt hay không?

Theo lời khai của ông T thì khi dự đám cúng Đình L ngày 30/12/2017

ông ngồi nhậu cùng bàn với ông M, lúc chuẩn bị ra về người bán vé số vào (bà Nguyễn Thị M) tới mời ông Lữ Đ mua 04 tờ vé số có cùng dãy số 648470 của Đài Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ nói với ông T, “số này đẹp tao lấy 02 tờ, mày lấy 02 tờ…”. Sau khi trả tiền cho bà M, ông T quay lại đưa 02 tờ vé số cho ông M.

Ông Đ khai rằng (BL 61): Người bán vé số còn 12 tờ, đầu tiên ông lấy

07 tờ chia ra, còn 05 tờ còn lại ông mua ông trả tiền trong đó có 04 tờ vé số cùng seri. Ông tặng lại ông T 02 tờ nhưng ông T không giữ mà đưa cho ông M. Chiều cùng ngày có người ở trong đình báo ông trúng số đặc biệt số là 648470 mở ngày 30/12/2017.

Theo giấy xác nhận của bà M (BL39): Bà có mời ông M (Đ) mua 04 tờ

vé số là số 648470 của Đài Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M (Đ) mua 02 tờ còn đưa 02 tờ cho ông Q giày (T), ông Q giày (T) đưa gửi 02 tờ vé số đó cho ông S (M). Chiều đó đài xổ 04 tờ bà M bán cho ông M và ông Q đều trúng độc đắc hết. Mấy người mua số của bà bữa đó trúng độc đắc tất cả 09 tờ.

Theo kết quả trả lời xác minh của Công ty TNHH Một thành viên Xổ

Số Kiến Thiết tại Công văn số 50/CV- XSKT ngày 16/3/2019 và Công văn số 155/CV- XSKT ngày 12/5/2020 thì giá trị của vé số trúng giải đặc biệt sau khi trừ thuế thu nhập cá nhân còn lại là 1.800.000.000 đồng và những cá nhân, tổ chức đến lĩnh thưởng kỳ vé 17.12E7 mang số hiệu 648470 xổ ngày 30/12/2017 gồm: Đại lý Nguyễn Kế Đ (03 vé), Đại lý Nguyễn Minh Nh (01 vé), khách hàng Lữ Đ (03 vé), khách hàng Lâm Quang T (01 vé), khách hàng Nguyễn Minh B (01 vé).

Qua các chứng cứ nêu trên cho thấy lời khai của ông M, ông Đ, bà M

có sự mâu thuẫn, cụ thể: Ông T, bà M đều khai, bà M mời ông Đ mua 04 tờ vé số, ông Đ mua 02 tờ và đưa qua cho ông T mua 02 tờ. Còn ông Đ lại khai bà M còn 12 tờ vé số, 07 tờ đầu ông Đ lấy chia đều cho mọi người, 05 tờ sau trong đó có 04 tờ cùng seri ông lấy 02 tờ còn cho ông T 02 tờ (không phải do ông T mua). Ngoài ra, lời khai của các đương sự còn mâu thuẫn với sự kiện thực tế là ông Đ lĩnh thưởng 03 tờ giải đặc biệt chứ không phải 02 tờ.

Tại Tòa phúc thẩm, người đại diện của nguyên đơn cho rằng vì lý do cá

nhân nên ông Đ mới khai là chỉ trúng 02 tờ vé số. Như vậy, nếu không phải bà M và ông Đ có sự gặp gỡ và bàn bạc về lời khai (mặc dù có khác nhau về ai là người mua) thì chính người bán vé số là bà M cũng không nhớ chính xác được sự việc bán vé số như thế nào (vì bà M chỉ khai là ông Đ mua 02 tờ). Hơn nữa, nguyên đơn khai bà M không tự viết được nên nguyên đơn đã đưa bà M đến chỗ đánh máy để nhờ đánh máy. Do đó, việc ông T căn cứ vào lời

khai của ông Đ, bà M để chứng minh rằng ông đã gửi ông M giữ giùm 02 tờ

vé số trúng giải đặc biệt nhưng lời khai của ông Đ, bà M lại thiếu sự chính

xác, không đảm bảo tính khách quan và mâu thuẫn với kết quả thu thập được

về số tờ ông Đ trúng thưởng trên thực tế. Mặt khác, trong số những người lĩnh

thưởng lại không có tên của ông Tô Văn M và người đại diện của nguyên đơn

cũng xác định trong danh sách những tổ chức, cá nhân lĩnh thưởng mà Công

ty TNHH Một thành viên Xổ Số Kiến Thiết Thành phố Hồ Chí Minh cung

cấp ông Tâm không quen ai ngoài ông Đ. Ông T không có chứng cứ nào

chứng minh ông M có lĩnh thưởng kỳ vé 17.12E7 mang số hiệu 648470.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại các Đại lý vé số có trong danh sách

nhận thưởng nhưng theo Công an phường Đ, Quận 12 cho biết địa chỉ đăng

ký của Đại lý Nguyễn Minh Nh không có trên địa bàn. Còn tại địa chỉ của Đại

lý Nguyễn Kế Đ, Tòa án cũng có được thông tin rằng, phía đại lý không bao

giờ lưu lại bất kỳ thông tin nào của người nhờ đổi thưởng.

Từ sự phân tích trên, không có căn cứ để xác định ông M đã trúng

thưởng giải đặc biệt xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày

30/12/2017. Án sơ thẩm buộc ông M phải trả cho ông T giá trị của 01 vé số

trúng giải đặc biệt là 1.800.000.000 đồng là không có cơ sơ. Do đó, Hội đồng

xét xử không chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh; Chấp nhận kháng cáo của ông M, sửa bản án sơ thẩm theo hướng

không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T buộc ông M phải trả cho ông T

giá trị của 02 tờ vé số sau thuế là 3.600.000.000 đồng

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa

chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 104.000.000

đồng. Xét nguyên đơn có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương

xác nhận nên Hội đồng xét xử giảm 50% án phí cho nguyên đơn, nguyên đơn

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 52.000.000 đồng được trừ vào số tiền tạm

ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 26.000.000 đồng. Nguyên đơn còn phải nộp

số tiền là 26.000.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn được

Tòa chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

Ông Tâm phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 148, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 166, 554, 556, 557, 559, 560 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 13, Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận kháng cáo của ông Tô Văn M.

Tuyên xử: Sửa bản án sơ thẩm.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn ông

Hồ Thanh T.

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ

Thanh T buộc ông Tô Văn M trả lại cho ông Hồ Thanh T số tiền là 3.600.000.000 (Ba tỷ sáu trăm triệu) đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Thanh T phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm là 52.000.000 (Năm mươi hai triệu) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông T đã nộp là 26.000.000 (Hai mươi sáu triệu) đồng theo Biên lai thu số AA/2017/0033936 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T còn phải nộp số tiền là 26.000.000 (Hai mươi sáu triệu) đồng.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Thanh T phải chịu án phí dân

sự phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông T đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0083238 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Tô Văn M là 300.000 (Ba

trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu số AA/2019/0083226 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ