- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Sú Hôn C. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nh n d n huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Tòa án nh n d n hu vực 13, t nh L m Đồng).
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật D n sự; Điều 119 Bộ luật D n sự; Điều 12 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 397/2025/DS-PT Ngày: 17/12/2025 V/v: “Tranh chấp đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Yến - Thư Toà án của Tòa án nh n d n t nh L m Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh L m Đồng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 287/2025/TLPT-DS, ngày 15/10/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án d n sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nh n d n hu vực 13, t nh L m Đồng bị háng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 594/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa ch : Thôn A, xã B, huyện B, Bình Thuận (nay là thôn A, xã H, t nh L m Đồng).
- Bị đơn: Ông Sú Hôn C, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa ch : Thôn A, xã B, huyện B, Bình Thuận (nay là thôn A, xã H, t nh L m Đồng)..
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Văn Bổn là Luật sư của Văn phòng Luật sư Phương Thùy thuộc Đoàn Luật sư t nh Bình Thuận (có mặt).
Địa ch : 138 Lê Lợi, phường H, thành phố P, t nh Bình Thuận (nay là phường P, t nh L m Đồng).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nh n d n huyện B, t nh Bình Thuận.
Người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch UBND xã H, t nh L m Đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lư Đức H – Phó Trưởng phòng inh tế xã H, t nh L m Đồng (có mặt).
2. Ng n hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Địa ch : Số 02 đường Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Toàn V: Ông Lê Viết K - Giám đốc Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Bình (theo văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022) (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Viết K: Ông Trương Đình L, chức vụ: Phó Trưởng Phòng hách hàng - Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Bình (theo văn bản ủy quyền số 1091/NHNo.Bth.BB-KH ngày 17/12/2025 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T trình bày: Nguồn gốc đất thửa đất số A40, diện tích 249m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793 cấp ngày 21/12/2012 mà hai bên đang tranh chấp là của ông Nguyễn Ngọc Lanh, sinh năm 1956 (là cha ruột của ông), mua lại đất ở do UBND xã Bình An quy hoạch, sau đó Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha ông. Đến năm 2010 thì cha ông tặng cho lại riêng cá nh n ông thửa đất này. Từ hi được tặng cho thì ông vẫn để đất trống, hông canh tác gì, đến hoảng tháng 10/2023 hi ông muốn x y dựng nhà để ở thì ông Sú Hôn C đến ngăn cản hông cho ông tác động đến đất với l do là nhà nước lấy đất này của gia đình ông Sú Hôn C để quy hoạch nhưng chưa đền bù thỏa đáng cho gia đình ông Sú Hôn C. Ông T đã yêu cầu Ủy ban nh n d n xã Bình An hòa giải nhưng hông thành. Vì vậy, ông hởi iện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Sú Hôn C trả lại thửa đất số A40, diện tích 249m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793 do Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình cấp ngày 21/12/2012 đứng tên Nguyễn Hồng T.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Sú Hôn C trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp trước đ y thuộc diện tích đất 1800m2 đất trồng lúa của cha ông là ông Sú Phốc H (đã chết năm 2011) hai hoang. Sau đó, Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình có quyết định số 442/2005/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 về việc thu hồi diện tích đất 1800m2 này để quy hoạch đất ở nông thôn, đồng thời UBND huyện Bắc Bình có quyết định số 447/2005/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 về việc hoán đổi diện tích đất 1800m2 nêu trên, để giao diện tích đất 2560m2 thửa số 01, 02, 03, 04, 05, 06 tờ bản đồ độc lập, đất tọa lạc tại xứ đồng La Thang, thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận, mục đích sử dụng đất trồng lúa. Lúc đó cha ông và ông có đến xem thực địa diện tích đất 2560m2 nhưng do diện tích đất 2560m2 này hông có đường đi lại nên cha ông và ông hông đồng việc thu hồi đất, hoán đổi như trên, gia đình ông đã có gửi đơn yêu cầu giải quyết nhưng đến giờ vẫn chưa giải quyết xong.
Đất tranh chấp 249m2 thuộc diện tích đất 1800m2 nêu trên do cha ông cho cá nh n ông (việc cho ch bằng miệng, hông có giấy tờ), ông sử dụng đất từ năm 1986 đến năm 2016 trồng thanh long, từ 2016 đến nay thì hông trồng thanh long nữa mà ch để trồng cỏ cho bò ăn. Ngoài ra trên đất hông có tài sản gì hác. Nay nguyên đơn yêu cầu ông trả lại thì ông hông đồng .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Bắc Bình trình bày tại văn bản số 1142/UBND-SX ngày 14/5/2025 như sau:
Năm 1997, Ủy ban nh n d n xã Bình An phối hợp phòng Địa chính huyện Bắc Bình quy hoạch mới hu d n cư thôn A, xã B, huyện B, trong quá trình thực hiện quy hoạch có 1.800m2 đất sản xuất của hộ ông Sú Phốc H trong khu quy hoạch nêu trên.
Theo báo cáo của UBND xã Bình An tại Tờ trình số 100/TTr-UBND ngày 05/10/2011 có nội dung “Vào ngày 10/11/2003, UBND xã Bình An có mời hộ ông Sú Phốc H để hiệp thương và hoán đổi lại diện tích đất sản xuất của hộ ông bị thiệt hại trong hu quy hoạch và hộ ông Sú Phốc H đã chấp thuận”; tuy nhiên trong quá trình lưu trữ và chuyển giao thì hiện nay UBND xã Bình An đã thất lạc biên bản làm việc này. Đến ngày 25/02/2005, UBND xã Bình An tiếp tục mời các hộ có đất sản xuất trong hu quy hoạch để hiệp thương, hoán đổi diện tích trong hu quy hoạch đất ở; sau hi bàn bạc, thống nhất thì “ông Sú Phốc H đề nghị UBND xã xem xét hoán đổi số diện tích số diện tích ruộng của ông theo biên bản (1.800m2) vào đất dự phòng của xã ề hu quy hoạch d n cư năm 1997”. Diện tích đất hoán đổi được lấy từ quỹ đất dự phòng 5% của xã và đã được các hộ chấp thuận tên vào biên bản làm việc, trong đó có hộ ông Sú Phốc H (ông Hìn lăn tay điểm ch ); UBND xã Bình An có Tờ trình số 22/TT-UBBA ngày 18/5/2005 về việc ban hành Quyết định thu hồi 8.505m2 đất ruộng dự phòng 5% do UBND xã Bình An quản l để đền bù, hoán đổi cho các hộ có đất trong hu quy hoạch d n cư của xã Bình An để triển hai thực hiện quy hoạch.
Ngày 26/8/2005, UBND huyện Bắc Bình có Quyết định số 442/2005/QĐ-UBND về việc thu hồi đất trồng lúa để quy hoạch đất ở nông thôn đối với diện tích 1.800m2 đất trồng lúa của ông Sú Phốc H - cha của Sú Hôn C. Đồng thời ngày 26/8/2005, UBND huyện Bắc Bình có Quyết định số 447/2005/QĐ- UBND về việc giao đất để trồng lúa cho hộ ông Sú Phốc H với diện tích 2.560m2.
Đến ngày 30/8/2005, UBND xã Bình An đã mời hộ ông Sú Phốc H để giao nhận Quyết định số 442/2005/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 nhưng ông Sú Phốc H không nhận quyết định và cũng hông vào biên bản giao nhận quyết định. Đồng thời hộ ông Sú Phốc H tiếp tục sản xuất toàn bộ diện tích đất đã thu hồi. Vì vậy đã g y cản trở cho việc thực hiện quy hoạch cũng như việc giao đất ở cho các hộ đã có quyết định giao đất của cấp có thẩm quyền. Năm 2011 ông Sú Phốc H chết, nên hiện nay diện tích trên do ông Sú Hôn C (con của ông Sú Phốc H) đang sử dụng.
Theo báo cáo số 13/BC-UBND ngày 19/02/2020 và Báo cáo số 20/BC-UBND ngày 24/3/2021 của UBND xã Bình An, UBND xã Bình An đã mời ông Sú Hôn C làm việc, giải thích, trao đổi nhưng ông Chanh hông đồng bồi thường.
Qua xác minh hiện trạng sử dụng đất tại phần diện tích đất được hoán đổi 2.560m2 vào năm 2005 (theo Quyết định giao đất số 447/2005/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 của UBND huyện Bắc Bình) thì quá trình sử dụng đất đối với các thửa đất như sau:
+ Đối với các thửa đất L3, L4, L5, L6 nay là các thửa đất số 459, 486, 502 diện tích hoảng 1524,8m2 tờ bản đồ số 89, đất lúa, chưa quy chủ: Sau hi hoán đổi các thửa đất dự phòng ông Sú Phốc H có sử dụng từ ngày 26/8/2005, đến năm 2006 bán cho ông Võ Văn Phước trồng lúa và sử dụng ổn định đến nay. Ranh giới đất từ lúc mua đến nay vẫn được giữ nguyên, hông thay đổi (có biên bản xác minh kèm theo).
+ Đối với các thửa đất L1, L2 nay thuộc thửa 481 tờ bản đồ số 89 (920), diện tích hoảng 850,6m2: Năm 2005 giao đất cho ông Sú Phốc H, ông Hìn sử dụng trồng lúa đến hi ông Sú Phốc H chết nên ông Sú Hôn C (con ông Sú Phốc H) tiếp tục sử dụng, đến năm 2022 đào ao trồng dừa và giữ hiện trạng đến nay.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trình bày:
Ông Nguyễn Hồng T có vay vốn tại Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Bắc Bình theo hợp đồng tín dụng số 4809LAV202303086 ngày 23/5/2023. Dư nợ hiện tại là 250.000.000 đồng. Hợp đồng tín dụng đang được đảm bảo bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5447/23/HĐTC ngày 18/5/2023 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng) đã quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a, điểm c hoản 1 Điều 39; hoản 1 Điều 147; Điều 157 của Bộ luật Tố tụng d n sự;
- Điều 722; Điều 723; Điều 724; Điều 725; Điều 726 của Bộ luật D n sự năm 2005;
- Khoản 1, hoản 3 Điều 39; hoản 2 Điều 42 của Luật Đất đai năm 2003;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng T.
Buộc ông Sú Hôn C phải trả lại cho ông Nguyễn Hồng T thửa đất số A40, diện tích 249m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793 do Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình cấp ngày 21/12/2012 đứng tên Nguyễn Hồng T.
(Kèm theo Sơ đồ vị trí hu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai Bắc Bình duyệt ngày 29/8/2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền háng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 19/6/2025, bị đơn ông Sú Hôn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và tại đơn háng cáo bổ sung ngày 27/6/2025, bị đơn háng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để xét xử sơ thẩm lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn ông Sú Hôn C giữ nguyên yêu cầu háng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ háng cáo của bị đơn, hủy bản án d n sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nh n d n huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Tòa án nh n d n hu vực 13, t nh L m Đồng) vì cho rằng việc đánh giá chứng cứ của cấp sơ hẩm là chưa toàn diện, chưa nghi nhận iến trình bày của bị đơn mà căn cứ lời trình bày và cung cấp tài liệu của Ủy ban nh n d n huyện Hàm Thuận Bắc trong hi việc thu hồi và hoán đổi đất chưa hoàn thành và còn nhiều vướng mắc. Đối với việc cấp sơ thẩm hông thụ l yêu cầu phản tố của bị đơn, hông tổ chức hòa giải thì hông yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu iến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự, hông chấp nhận háng cáo của ông Sú Hôn C và giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nh n d n huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Tòa án nh n d n hu vực 13, t nh L m Đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
- Về việc vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Chủ tịch UBND xã Hải Ninh nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời có mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại hoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
- Về thời hạn hạn cáo: Ông Sú Hôn C làm đơn háng cáo trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn hởi iện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại hoản 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Xét háng cáo của bị đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
. Nguồn gốc thửa đất số A40, diện tích 249m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793 cấp ngày 21/12/2012 đứng tên Nguyễn Hồng T thuộc diện tích đất 1800m2 đất trồng lúa của ông Sú Phốc H (cha của ông Sú Hôn C).
Ngày 26/8/2005, Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình ban hành Quyết định số 442/2005/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 1800m2 đất trồng lúa của ông Sú Phốc H để quy hoạch đất ở nông thôn tại xã Bình An, cùng ngày, Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình đã ban hành Quyết định số 447/2005/QĐ-UBND về việc giao tổng diện tích 2560m2 thửa đất số 01, 02, 03, 04, 05, 06 tờ bản đồ độc lập, mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất tọa lạc tại xứ đồng La Thang, thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận hoán đổi cho ông Sú Phốc H để canh tác.
Ngày 11/4/2007, ông Nguyễn Ngọc Lanh đã có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến ngày 14/8/2007, Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 106455 cho hộ ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị T (đã cập nhật biến động sang tên cho ông Nguyễn Hồng T ngày 04/8/2009 do nhận tặng cho). Ngày 28/6/2012, ông Nguyễn Hồng T đã có đơn báo mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 26/12/2012, Ủy ban nh n d n huyện bắc Bình đã ban hành Quyết định số 6623/QĐ-UB về việc hủy và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hồng T, theo đó đã hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 106455 cấp ngày 14/8/2007 và cấp lại cho ông Nguyễn Hồng T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793, diện tích 249m2, thửa đất số A40, tờ bản đồ Quy hoạch d n cư xã Bình An.
. Theo bị đơn ông Sú Hôn C trình bày thì nguồn gốc đất tranh chấp là đất trồng lúa của ông Sú Phốc H (cha của ông Sú Hôn C), điều này cũng đã được Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình thừa nhận, tuy nhiên toàn bộ diện tích đất trên đã bị thu hồi theo Quyết định số 442/2005/QĐ-UBND ngày 26/8/2005 của Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình về việc thu hồi diện tích 1800m2 đất trồng lúa của ông Sú Phốc H để quy hoạch đất ở nông thôn tại xã Bình An.
Theo quy định của pháp luật thì hi nhà nước thu hồi đất thì ch có chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai mà hông có việc hoán đổi đất giữa nhà nước và người bị thu hồi đất, cụ thể:
Theo quy định tại hoản 2 Điều 42 của Luật Đất đai năm 2003 thì: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.”
Theo quy định trên thì ông Sú Phốc H bị thu hồi diện tích 1800m2 đất trồng lúa và đã được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng với diện tích là 2560m2. Mặc dù phía bị đơn cho rằng việc hoán đổi đất chưa hoàn tất nhưng phía bị đơn đã nhận các thửa đất được giao để sử dụng và chuyển nhượng cho người hác, đồng thời phía bị đơn nếu hông đồng đối với Quyết định thu hồi, bồi thường thì có quyền hiếu nại hoặc hởi iện theo quy định của pháp luật nhưng cho đến thời điểm hiện nay thì Quyết định trên hông bị hiếu iện, thu hồi, hủy bỏ hoặc thay thế nên vẫn còn hiệu lực vì vậy những người có liên quan phải chấp hành Quyết định này.
Việc bị đơn cho rằng, do hông đồng với việc hoán đổi nên bị đơn vẫn trực tiếp canh tác, sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất 1800m2. Lời trình bày của bị đơn là hông có cơ sở bởi lẽ sau hi thu hồi đất thì UBND huyện Bắc Bình đã thực hiện việc giải phóng mặt bằng, làm đường, ph n lô và đã giao đất cho các hộ dân.
. Như vậy, căn cứ Quyết định số 619/QĐ-UB về việc giao đất để x y dựng cơ bản ngày 06/6/2003 và Quyết định số 442/2005/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 1800m2 đất trồng lúa của ông Sú Phốc H để quy hoạch đất ở nông thôn tại xã Bình An ngày 26/8/2005 của Ủy ban nh n d n huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận thì ông Nguyễn Ngọc Lanh và bà Nguyễn Thị Tịnh là chủ sử dụng đất hợp pháp và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Ông Nguyễn Ngọc Lanh và bà Nguyễn Thị Tịnh đã tặng cho ông Nguyễn Hồng T.
. Từ những ph n tích trên có thể hẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông ông Nguyễn Ngọc Lanh và bà Nguyễn Thị Tịnh là đúng quy định, ông Lanh, bà Tịnh tặng cho ông Nguyễn Hồng T là đảm bảo đúng pháp luật nên ông Nguyễn Hồng T là người sử dụng đất hợp pháp nên cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hồng T buộc ông Sú Hôn C trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông T là có căn cứ và đúng pháp luật. Quá trình xét xử phúc thẩm thì ông Sú Hôn C hông có tài liệu, chứng cứ gì hác nên háng cáo của ông Sú Hôn C là hông có căn cứ để chấp nhận như đề nghị của đại diện viện iểm sát là phù hợp.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu hởi iện của ông Nguyễn Hồng T được chấp nhận nên ông Sú Hôn C phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc. Quá trình giải quyết vụ án, ông T đã nộp số tiền là 10.000.000đồng nên cần buộc ông Sú Hôn C hoàn trả lại số tiền này cho ông Nguyễn Hồng T.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do háng cáo hông được chấp nhận nên người kháng cáo ông Sú Hôn C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự;
Không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Sú Hôn C. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nh n d n huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuận (nay là Tòa án nh n d n hu vực 13, t nh L m Đồng).
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 147, hoản 1 Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 165, hoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n sự;
- Điều 117, Điều 119, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật D n sự;
- Điều 12, Điều 26, Điều 166, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;
- Điều 26, Điều 37, Điều 45 Luật Đất đai năm 2024;
Khoản 2 hoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 2 Điều 27, hoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông Nguyễn Hồng T.
1. Buộc ông Sú Hôn C phải trả lại cho ông Nguyễn Hồng T thửa đất số A40, tờ bản đồ khu quy hoạch hu d n cư xã Bình An, diện tích 249m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 587793 cấp ngày 21/12/2012 đứng tên Nguyễn Hồng T tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, t nh Bình Thuận được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1 trên Sơ đồ vị trí hu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Bắc Bình ký duyệt ngày 29/8/2024). (kèm theo bản án)
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Sú Hôn C phải hoàn trả tiền xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 10.000.000 đồng cho ông Nguyễn Hồng T.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí d n sự sơ thẩm: Ông Sú Hôn C phải nộp 300.000đ án phí d n sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hồng T hông phải chịu án phí d n sự sơ thẩm, trả lại cho ông Nguyễn Hồng T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008741 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Bắc Bình, t nh Bình Thuậ(nay là Phòng Thi hành án d n sự hu vực 13 – L m Đồng).
4. Về án phí d n sự phúc thẩm: Buộc ông Sú Hôn C phải nộp 300.000đ án phí d n sự phúc thẩm, nhưng được hấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001483 ngày 30/7/2025 của Thi hành án d n sự t nh L m Đồng; ông Sú Hôn C đã nộp đủ án phí d n sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Những quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án (ngày 17/12/2025)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; - TAND Khu vực 13; - Phòng THADS khu vực 13; - Các đương sự; - Cổng TTĐT-TANDTC - Lưu: HS; Tòa DS; Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Anh Dũng |