vanban.org

Bản án 397/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu H đối với bị đơn anh Trịnh Minh N về việc tranh chấp ly hôn.

1 Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Trịnh Minh N. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trịnh Minh N chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 133 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/12/2020 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu H đối với bị đơn anh Trịnh Minh N về việc tranh chấp ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 397/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Dòn

2. Ông Võ Hoàng Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1215/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/42023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm: 2002; Địa chỉ: C tổ D, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Chị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Trịnh Minh N, sinh năm: 1995; Địa chỉ: B, ấp B, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Anh N vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 29/8/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án

- Nguyên đơn chị Lê Thị Thu H trình bày:

Chị Lê Thị Thu H và anh Trịnh Minh N chung sống với nhau từ năm 2020, do tự tìm hiểu, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/12/2020. Trong quá trình chung sống cũng bình thường, không có gì xảy ra nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nhất. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, anh N không lo làm ăn lại còn tính vũ phu. Đến đầu năm 2022 chị về nhà cha mẹ ruột ở, xong sau đó hai bên hòa giải rồi về ở lại nhưng từ tháng 8/2022 cho đến nay thì vợ chồng sống ly thân luôn. Đã nhiều lần hai bên cố gắng hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trịnh Minh N.

Về con chung, chị H và anh N chung sống có một con chung tên Trịnh Ngọc Thiên K, sinh ngày 03/12/2020, từ khi ly thân đến nay thì con đang ở với chị, vì vậy khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung, chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh Trịnh Minh N gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Trịnh Minh N vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, tranh luận của các bên đương sự thì xét thấy thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Nguyên đơn chị Lê Thị Thu H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Trịnh Minh N, anh Trịnh Minh N có nơi cư trú tại B ấp B, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của các đương sự:

- Nguyên đơn chị Lê Thị Thu H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn anh Trịnh Minh N, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Trịnh Minh N nhưng anh N vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 133 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B cấp ngày 12/12/2020 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo trình bày của chị H xác định giữa chị và anh N phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trịnh Minh N. Còn anh N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, yêu cầu về các yêu cầu khởi kiện của chị H.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì anh N vắng mặt, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân xã Q thì hiện chị H và anh N đang sống ly thân, như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh N là có diễn ra. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị H và anh N đã không đạt được, đời sống chung giữa hai vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, chị H yêu cầu ly hôn đối với anh N là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị H xác nhận giữa chị và anh N chung sống có một con chung tên Trịnh Ngọc Thiên K, sinh ngày 03/12/2020, hiện cháu K đang ở với chị H. Khi ly hôn, nguyện vọng của chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu về con chung của chị H, do đó Hội đồng xét xử căn cứ ý kiến của chị H để xem xét.

Về quyền nuôi con khi ly hôn:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trưởng hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”

Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 314 do Ủy ban nhân dân xã xã B, huyện B cấp ngày 12/12/2020 có cơ sở xác định tính đến thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm cháu Trịnh Ngọc Thiên K, sinh ngày 03/12/2020 thuộc trường hợp con dưới 36 tháng tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Theo kết quả xác minh thì cháu K hiện đang do chị H nuôi dưỡng, cháu K được nuôi dưỡng tốt, phát triển tốt về thể chất và nhận thức. Hơn nữa, hiện nay cháu K vẫn còn rất nhỏ, mới chỉ gần 30 tháng tuổi. Hội đồng xét xử xem xét đến khả năng của các đương sự về việc đảm bảo cuộc sống ổn định, tinh thần, sự phát triển tốt nhất cho cháu K nên căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Trịnh Ngọc Thiên K cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là thỏa đáng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu K khi ly hôn. Tuy nhiên, do đây là quyền lợi của trẻ do đó Hội đồng xét xử xét tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh N.

Về tài sản chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của anh về tài sản chung giữa anh và chị H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của chị H, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

Về nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh N vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của anh về nợ chung giữa anh và chị H. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của chị H, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn chị Lê Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 69, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu H đối với bị đơn anh Trịnh Minh N về việc tranh chấp ly hôn.

1.1 Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Trịnh Minh N. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trịnh Minh N chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 133 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/12/2020 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Chị Lê Thị Thu H xác nhận giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trịnh Minh N có một con chung tên Trịnh Ngọc Thiên K, sinh ngày 03/12/2020. Hiện cháu Trịnh Ngọc Thiên K đang sống với chị Lê Thị Thu H.

Giao con chung tên Trịnh Ngọc Thiên K cho chị Lê Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Trịnh Minh N.

Anh Trịnh Minh N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

1.3 Về tài sản chung: Chị Lê Thị Thu H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

1.4 Về nợ chung: Chị Lê Thị Thu H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

2. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0042298 ngày 17/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị H đã nộp đầy đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ