vanban.org

Bản án 397/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Y.

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Kim Y được quyền ly hôn với ông Trần Văn P. Về con chung: Giao cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 19/6/2007 cho bà Nguyễn Kim Y là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim Y kiện Trần Văn P"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Y.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 397/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29/6/2020
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Quý.

2. Ông Lê Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Lan Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 767/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Y, sinh năm: 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm Q, ấp K, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở: HGF, khu phố O, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số U, ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 02/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim Y trình bày: Bà và ông Trần Văn P chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai (Nay là phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai), tỉnh Bạc Liêu vào ngày 31/5/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mỗi người đã có cuộc sống riêng, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được nên ông bà đã ly thân từ cách nay mười năm. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Cho bà ly hôn với ông P.

- Về con chung: Có 01 con tên Trần Gia Bảo, sinh ngày 19/6/2007, hiện đang sống chung với bà Y. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bảo, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông Trần Văn P vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, ông P cũng vắng mặt

Tại phiên tòa, bà Y trình bày vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn vào năm 2010 do mâu thuẫn với mẹ chồng, từ đó dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, mỗi người đã có cuộc sống riêng nên ông bà đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Các vấn đề còn lại, bà Y vẫn giữ yêu cầu và ý kiến như đã trình bày trước đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng. Về nội dung: Do bà Y, ông P có mâu thuẫn kéo dài, ly thân từ năm 2010 mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông P cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà Y, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Y ly hôn với ông P. Về con chung: Do bà Y trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc tốt sau khi ông bà ly thân, bà Y có nơi ở và thu nhập ổn định, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của cháu nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi cháu Bảo của bà Y. Tại phiên tòa, bà Y không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Kim Y khởi kiện ông Trần Văn P yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Y và ông P là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Ông Trần Văn P vắng mặt dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Kim Y và ông Trần Văn P sống chung năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai (Nay là phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai), tỉnh Bạc Liêu vào ngày 31/5/2007 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 203, quyển số 01, như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình sống chung hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do mâu thuẫn với mẹ chồng, từ đó dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, mỗi người đã có cuộc sống riêng. Bà Y yêu cầu được ly hôn, ông P vắng mặt nên không có ý kiến về vấn đề này. Nhận thấy, bà Nguyễn Kim Y và ông Trần Văn P có phát sinh mâu thuẫn kéo dài, sống ly thân từ năm 2010. Trong thời gian ly thân, ông bà không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm, đồng thời trong suốt quá trình tố tụng ông P cũng vắng mặt chứng tỏ ông không có ý hàn gắn với bà Y. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Y được quyền ly hôn với ông P.

Về con chung: Có 01 con tên Trần Gia Bảo, sinh ngày 19/6/2007, hiện đang sống chung với bà Y. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bảo, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu Bảo do bà Y trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ông bà ly thân, bà Y có nơi ở và thu nhập ổn định, đồng thời theo biên bản lấy lời khai thì nguyện vọng của cháu Bảo là được sống với bà Y nên cần giao cháu Bảo cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng, tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển tâm sinh lý của cháu. Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Y.

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Kim Y được quyền ly hôn với ông Trần Văn P.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 19/6/2007 cho bà Nguyễn Kim Y là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Kim Y phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 01531 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong.

Bà Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ