- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Phú Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phú Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 301/2019/HS-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 397/2019/HSPT Ngày: 22/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Kim Rết
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Sơn;
Ông Đinh Quang Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh– Thư ký Tòa án tỉnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 249/2019/TLPT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Phú Q, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phú Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2019/HS-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phú Q.
Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1998.
HKTT: Ấp , thị trấn , huyện , tỉnh Kiên Giang.
Tạm trú: khu phố Qu, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc : Kinh - Tôn giáo: Phật.
Trình độ học vấn: Lớp 5/12. - Nghề nghiệp: Công nhân.
Họ tên cha: Nguyễn Văn T – sinh năm 1962
Họ tên mẹ: Trần Thị Tuyết H - sinh năm 1960.
Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu.
Bị cáo sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Kim – sinh 1996 (không có đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị b t ngày 22/11/2018 theo Lệnh b t tạm giam số 88/LBTG ngày 05/11/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Phú Q
(Trong vụ án còn có Bị hại chị Trần Thị Mộng Th, cháu Nguyễn Thanh Ng, người đại diện theo ủy quyền của chị Th và đại diện hợp pháp của cháu Ng là ông Nguyễn Thanh L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H nhưng không có kháng cáo nên tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 03 tháng 03 năm 2018, Nguyễn Phú Q không có giấy phép lái xe, điều khiển xe môtô biển số 60B4 – 714.37 (trên 50cm3) chở chị Nguyễn Thị H ngồi phía sau lưu thông trên đường B1 theo hướng Ngã tư H1 đi phường B1, thành phố B2, tỉnh Đồng Nai. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp T1, khu phố V, phường B, thành phố B, Q điều khiển xe môtô vượt lên xe môtô khác (không rõ biển số và người điều khiển) lấn sang phần đường bên trái nên xe của Q đụng vào chị Trần Thị Mộng Th đang đi bộ qua đường, trên tay chị Th bế con gái là Nguyễn Thanh Ng (sinh năm 2014) làm chị Thúy và cháu Ngọc ngã xuống đường. Hậu quả chị Th và cháu Ng bị thương nặng và được đưa đến bệnh viện cấp cứu.
* Tại Giấy chứng nhận thương tích số 43/ C-BVĐN ngày 12-4-2018 của bệnh viện đa khoa Đồng Nai, bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0291/GĐP /2018 ngày 26-4-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai đã kết luận thương tích và t lệ thương tật của chị Trần Thị Mộng Th là 78%.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 06/KHTH/2018 ngày 06-4-2018 của Bệnh viện Nhi Đồng -Đồng Nai, bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0290/GĐP /2018 ngày 22-5-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai đã kết luận thương tích và t lệ thương tật của cháu Nguyễn Thanh Ng là 74%.
Vật chứng: 01 xe mô tô biển số 60B4-714.37 do chị Nguyễn Thị H là chủ sở hữu, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đang tạm giữ.
Quá trình điều tra: chị Trần Thị Mộng Th yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác số tiền là 165.598.000đ; yêu cầu bồi thường cho cháu Ng số tiền là 168.548.000đ. Nguyễn Thị H đã bồi thường số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng), Q chưa bồi thường.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 301/2019/HS-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phú Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a, e khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án:
ử phạt: Nguyễn Phú Q 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2018.
- Căn cứ Điều 584, 590, 591, 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Phú Q và đại diện hợp pháp của bị hại về bồi thường thiệt hại. Bị cáo Nguyễn Phú Q bồi thường cho chị Trần Thị Mộng Th số tiền 140.298.058đ (Một trăm bốn mươi triệu, hai trăm chín mươi tám ngàn, không trăm năm mươi tám đồng) và bồi thường cho cháu Nguyễn Thanh Ng số tiền 143.247.869đ (Một trăm bốn mươi ba triệu, hai trăm bốn mươi bảy ngàn, tám trăm sáu mươi chín đồng).
Về xử lý vật chứng: Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H 01 (một) xe mô tô biển số 60B4 – 714.37 nhãn hiệu Honda, màu cam đen, số máy KC26B1122856, số khung 2609G 088089, yếm ch n gió bên trái bung ra khỏi vị trí.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 15/7/2019, bị cáo Nguyễn Phú Q kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
-Ý kiến của Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnhĐồng Nai tại phiên tòa:
Bị cáo Q không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô trên 50cm3 lấn trái đường, đụng vào chị Th đang bế cháu Ng, làm chị Th bị thương tích 78% và cháu Ng bị Thương tích 74%.
Hành vị của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của 2 người. Căn cứ điểm a, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Phú Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, đúng căn cứ pháp luật. Mức án 04 năm tù là tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phú Q làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Q
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phú Q thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Thể hiện khoảng 21 giờ ngày 03-03-2018, tại đường B1 thuộc ấp T1, khu phố V, phường B, thành phố B, bị cáo Nguyễn Phú Q điều khiển xe môtô biển số 60B4 – 714.37 chở chị Nguyễn Thị H (ngồi sau) lưu thông theo hướng Ngã tư H1 đi về hướng phường B. Khi xe do Q điều khiển lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp T1, khu phố V, phường B, thành phố B, Q vượt xe cùng chiều phía trước lấn sang phần đường bên trái đụng vào chị Trần Thị Mộng Th đang bế cháu Nguyễn Thanh Ng (con gái chị Th) đang đi bộ qua đường làm cả hai bị ngã xuống đất. Hậu quả chị Th bị thương tích với t lệ thương tật là 78%, cháu Ng bị thương tích với t lệ thương tật là 74%.
ét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phú Q về việc xin giảm nhẹ hình phạt
Bị cáo Q không có giấy phép lái xe nhưng điều khiển xe môtô có dung tích xilanh 149 cm3 là vi phạm các quy định tại khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1, 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái gây tai nạn làm bị thương 2 người đi bộ sang đường lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Hành vi của bị cáo Q gây nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của 2 người là chị Th và cháu Ng; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự giao thông. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Q tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt; tại phiên tòa tự nguyện thỏa thuận bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Do đó mức án 04 năm tù áp dụng đối với bị cáo Q là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như kháng cáo đã nêu. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên số tiền mà bị cáo Q phải bồi thường cho các bị hại là 285.000.000 đồng nên chưa đủ căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Q không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phú Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 301/2019/HS-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
2. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
ử phạt bị cáo Nguyễn Phú Q 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2018.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phú Q phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND thành phố Biên Hòa; - VKSND thành phố Biên Hòa; - Công an thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS Tp. Biên Hòa; - Phòng PV27 - CA tỉnh Đồng Nai; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Biên Hòa; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Bùi Kim Rết |