vanban.org

Bản án 397/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ h n nh n: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Minh C.

n: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Minh C không có con chung nên không xem xét giải quyết. 3/ V việc cấp dưỡng gi a Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị N - Nguyễn Minh C"
  • Tòa quyết gì? 1/ h n nh n: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Minh C.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ LÁCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH B N T
Bản án số: 397/2019/HNGĐ-ST
Ngày 30-10-2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hơn.

Bà Bùi Thị Thúy Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Lê Thị N - Sinh năm: 1958.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 23 tháng 9 năm 2019).

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Minh C - Sinh năm: 1963.

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là bà Lê Thị N trình bày:

+ Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh C do quen biết rồi chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 12/10/2016 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng một năm, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do ông C thường uống rượu và còn công khai chung sống với người phụ nữ khác. Từ đó làm cho đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể đoàn tụ, nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông C, không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

+ Về con: Bà và ông C không có con chung.

+ Về tài sản, về nợ: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về tài sản, đồng thời xác định bà và ông C không có nợ của ai khoản nợ nào.

- Bị đơn là ông Nguyễn Minh C vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có liên quan đến vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Lê Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn” với ông Nguyễn Minh C có địa chỉ tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn là ông Nguyễn Minh C vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, đồng thời bà Nga có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt ông C là phù hợp với quy định tại các điều 207, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa bà N và ông C là phù hợp với quy định của pháp luật. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy giữa bà Nga và ông C đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay mà không thể đoàn tụ được. Bên cạnh đó, dù đã được triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông C vẫn vắng mặt trong khi đó bà N vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của bà N về việc ly hôn với ông C là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con: Bà N và ông C không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về việc cấp dưỡng, về tài sản, về nợ: Ông C vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ; bà N không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và xác định là không có nợ; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Lê Thị N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

rên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 5, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên:

1/ h n nh n: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Minh C.

2/

n: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Minh C không có con chung nên không xem xét giải quyết.

3/ V việc cấp dưỡng gi a

h ng hi y h n

i n n : Ông Nguyễn Minh C vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của ông có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ; bà Lê Thị N không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và xác định là không có nợ; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét, giải quyết.

4/

n ph d n

ơ hẩ : Bà Lê Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5/

uy n h ng

h ng nghị đ i i n n: Bà Lê Thị N, ông Nguyễn Minh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ