- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S1 (S2) - Nguyễn Văn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 đối với ông Nguyễn Hoàng V về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỤC 10 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 395/2025/DS-ST Ngày: 26 – 9 – 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Chiến và bà Huỳnh Hoa Thiên Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 357/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2); Địa chỉ trụ sở: 266 - B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - chức vụ: Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng S – chức vụ: Giám đốc.
Người được ủy quyền lại: Bà Đỗ Thị Thanh H – Chuyên viên kiểm soát rủi ro; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/3/2025, quá trình giải quyết vụ án đại diện của Ngân hàng TMCP S1, bà Đỗ Thị Thanh H trình bày:
Ngày 04/04/2023, ông Nguyễn Hoàng V có ký với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Hoàng V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng anh Nguyễn Hoàng V1 đã thực hiện các giao dịch vay tiêu dùng và giao dịch thẻ tín dụng với tổng số tiền là 42.182.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Nguyễn Hoàng V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.787.704 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Khoản 5 Điều 5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Hoàng V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Hoàng V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Khoản 7, Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 10/03/2025 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Khoản 7, Điều 5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 26/9/2025, ông Nguyễn Hoàng V còn nợ các khoản sau: là 28.055.978 (Hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi tám) đồng. Ngân hàng đã yêu cầu ông Nguyễn Hoàng V có trách nhiệm thanh toán tuy nhiên ông Nguyễn Hoàng V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa buộc ông Nguyễn Hoàng V phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2025 là 28.055.978 (Hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi tám) đồng, (trong đó dư nợ quá hạn: 21.977.178 (Hai mươi mốt triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm bảy mươi tám) đồng, lãi quá hạn 6.078.800 (Sáu triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm) đồng. Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng V tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/09/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các Phụ lục điều khoản điều kiện hợp đồng tín dụng.
* Bị đơn, ông Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa để giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S1. Buộc ông V trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền nợ tính đến ngày 26/9/2025 số tiền 28.055.978 (Hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi tám) đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/09/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các Phụ lục điều khoản điều kiện hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán hết nợ.
Ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 đối với ông V, thấy rằng: Việc ông V vay tiền của Ngân hàng TMCP S1 được thể hiện qua Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng.
Quá trình sử dụng thẻ ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.787.704 đồng, sau đó ngưng không thanh toán Ngân hàng có nhắc nhở việc phải thanh toán tiền. Đến ngày 10/3/2025 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V trả tiền gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2025 là 28.055.978 (Hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi tám) đồng, ông Nguyễn Hoàng V tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ là có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông V phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 đối với ông Nguyễn Hoàng V về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Nguyễn Hoàng V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 28.055.978 (Hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bảy mươi tám) đồng, (trong đó dư nợ quá hạn: 21.977.178 (Hai mươi mốt triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm bảy mươi tám) đồng, lãi quá hạn 6.078.800 (Sáu triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng (hoặc thẻ tín dụng), các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng V phải chịu 1.403.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 559.000 (năm trăm năm mươi chín nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004326 ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Tây Ninh).
3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 10 - Tây Ninh; - CCTHADS khu vực 10 - Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kiều Thanh |