vanban.org

Bản án 395/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Th được ly hôn với anh Danh Nh.

Về con chung: Giao cháu Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021, cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nh không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Danh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Th được ly hôn với anh Danh Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 395/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 7 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khánh

Ông Huỳnh Hoàng Nam

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 605/2023/TLST - HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thị Th, sinh năm 1995 (có đơn xét xử vắng).

Địa chỉ: Ấp GĐ, xã BT, huyện GR, tỉnh KG

- Bị đơn: Anh Danh Nh, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp GĐ, xã BT, huyện GR, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2023 nguyên đơn chị Thị Th trình bày: Chị Thị Th và anh Danh Nh tự tìm tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng dần về sau thì anh Nh thay đổi tính tình chửi mắn, đánh đập xua đuổi chị ra khỏi nhà. Mặc dù chị đã cố gắng nhịn nhục chịu đựng để vợ chồng hàn gắng. Nhưng càng nhịn anh Nh càng lấn lướt, thậm chí còn bạo lực nhiều hơn trước nên chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và sống ly thân với anh Nh từ năm 2021 đến nay. Nay chị Th xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh Nh.

Về con chung: Chị Th xác định có ba người con chung gồm: Thị Tú Tr, sinh ngày 25/8/2017 (đã chết); Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021, hiện các con đang sống cùng với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Nh phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Danh Nh đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Nh không có văn bản phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tòa án đã triệu tập anh Danh Nh đến tham dự phiên dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Nh vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông qua thủ tục niêm yết nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Đối với nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Thị Th được ly hôn với anh Danh Nh.

Về con chung chị Thị Th xác định có một người con chung Thị Tú Tr, sinh ngày 25/8/2017 (đã chết); Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021, Do anh Nh vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu M và cháu L cho chị Th tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, anh Nh không phải cấp dưỡng do chị Th không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức Th, miễn, giảm, Th nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; chị Th được miễn án phí, đề nghị trả lại tiền tạm ứng án phí của chị Th đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Danh Nh với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Giồng Đá, xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án Thộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Đối với bị đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng; nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Thị Th với anh Danh Nh là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, theo thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân, dẫn đến ly hôn chị Th cho rằng giữa chị và anh Nh thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm sống có đôi lúc dẫn đến đánh nhau. Cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Nh, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn. Đối với anh Danh Nh Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Nh không có mặt và không có ý kiến phản hồi về việc ly hôn của chị Th. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị Th không còn tình cảm vợ chồng với anh Nh và cả hai đã sống ly thân. Đồng thời, theo xác M tại địa phương nơi cư trú của anh Nh xác định hiện tại chị Th và anh Nh đã không còn sống chung với nhau. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Th và anh Nh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th đối với anh Nh.

. Về con chung: Chị Th xác định chị và anh Nh có với nhau Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021; Thị Tú Tr (đã chết), từ khi ly hôn đến nay cháu M, cháu L sống với chị. Theo quy định của Luật hôn nhân và đình vợ chồng thỏa Thận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa Thận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh Nh đều vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ hay ý kiến gì về việc chị Th không đảm bảo điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Theo chị Th, hiện con đang sống cùng với chị. Nhằm giữ sự ổn định và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con, nghị nên tiếp tục giao cháu Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021, cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nh không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Danh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức Th, miễn, giảm, Th nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, chị Thị Th Thộc hộ cận nghèo có đơn xin miễn án phí được Tòa án chấp nhận nên chị Th được miễn án phí. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng phí chị Th đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Th được ly hôn với anh Danh Nh.

2. Về con chung: Giao cháu Thị Ngọc M, sinh ngày 04/9/2019; Thị Ngọc L, sinh ngày 13/11/2021, cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nh không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Danh Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Thị Th được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng phí chị Th đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai Th số 0002156 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Thị Th, anh Danh Nh vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ