vanban.org

Bản án 394/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Quyền T về việc xin ly hôn anh Võ Minh T2.

Về con chung: Cháu Võ Minh P, sinh ngày 26/12/2008 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Giao Võ Ngọc M, sinh ngày 29/8/2015 hiện đang sống với anh T2 cho anh T2 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang - Thuận"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Quyền T về việc xin ly hôn anh Võ Minh T2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 394/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30 – 7 – 2026
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Bảo Trang.

Ông Hồ Văn Mộng.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 710/2026/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2026, về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 736/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Quyền T (T1), sinh năm: 1990 (Có mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/11/2023;

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Võ Minh T2, sinh năm: 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Quyền T là nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Võ Minh T2 chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2008, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương, không có đăng ký kết hôn. Đến ngày 28/7/2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã Đ, tỉnh Cà Mau). Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Đến đầu năm 2024 anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh, chị bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng cự cãi thường xuyên. Mâu thuẫn giữa vợ chồng được cha, mẹ hai bên có tổ chức hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Anh, chị không còn sống chung từ cuối năm 2025 cho đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T2.

Về con chung: Chị T xác định: Anh, chị có hai người con chung tên Võ Minh P, sinh ngày 26/12/2008; Võ Ngọc M, 29/8/2015. Hiện cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu M đang sống với anh T2. Khi ly hôn chị T yêu cầu anh T2 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

Đối với anh Võ Minh T2, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh T2 đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật thông qua mẹ ruột của anh T2 là bà Đặng Hồng N nhận thay nhưng anh T2 vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của chị Nguyễn Quyền T về việc xin ly hôn với anh Võ Minh T2 thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; anh T2 là bị đơn có nơi cư trú tại ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Võ Minh T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng anh T2 vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T2 theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Quyền T và anh Võ Minh T2 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã Đ, tỉnh Cà Mau) vào ngày 28/7/2013 nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn. Xét thực tế cuộc sống chung của anh, chị có mâu thuẫn là đúng vì theo chị T thì vợ chồng anh, chị có xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn đỉnh điểm anh, chị không còn quan tâm, chăm sóc, quý trọng nhau, cự cãi nhiều lần, mỗi người sống một nơi từ cuối năm 2025 cho đến nay. Trong khoảng thời gian này anh, chị không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn của vợ, chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T2.

Về con chung: Chị T xác định: Anh, chị có hai người con chung tên Võ Minh P, sinh ngày 26/12/2008; Võ Ngọc M, 29/8/2015. Hiện cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu M đang sống với anh T2. Khi ly hôn chị T yêu cầu anh T2 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy việc nuôi dạy con là quyền và nghĩa vụ của chị T và anh T2. Giao con cho chị T hoặc anh T2 trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Việc anh, chị không sống chung đã phần nào ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của con nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng đời sống và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của con. Bên cạnh đó, tại biên bản ghi ý kiến con thì cháu M muốn ở cùng cha khi cha, mẹ ly hôn. Từ ngày chị T, anh T2 ly thân con luôn ở với chị T, anh T2 nhưng hiện nay cháu có cuộc sống ổn định và học hành tại địa phương nơi anh T2 sinh sống. Hội đồng xét xử xét thấy cháu M đang sống ổn định với anh T2 và có nguyện vọng muốn tiếp tục với mẹ nên để tránh sự xáo trộn tâm lý, cuộc sống của con Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cháu M cho anh T2 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh T2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung và người khác nợ lại: Chị T khai vợ chồng anh, chị không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Quyền T về việc xin ly hôn anh Võ Minh T2.

2. Về con chung: Cháu Võ Minh P, sinh ngày 26/12/2008 hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Giao Võ Ngọc M, sinh ngày 29/8/2015 hiện đang sống với anh T2 cho anh T2 được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh T2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung và người khác nợ lại: Chị T khai vợ chồng anh, chị không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Nguyễn Quyền T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 26 tháng 6 năm 2026, chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0008541 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7 và 8 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Quyền T có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Minh T2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ