- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyễn Phương V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Nguyễn Phương V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– Bản án số: 394/2019/HS-PT Ngày 06-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Vũ Hoài Nam
Các"Thẩm"phán:""1. Ông Vũ Tất Trình
2. Ông Phan Văn Liệt
Thư"ký"phiên"tòa:"Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"
phiên"tòa:""Bà Đỗ Thi Thu Hoàn- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 281/HSPT ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Lê Nguyễn Phương V do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2019/HSST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. "
Bị"cáo:
Lê Nguyễn Phương V, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nữ; Nơi đăng ký thường trú: số 423 Lô B Chung cư S, Phường 9, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 137/45 N, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: ông Lê Minh T, mẹ: bà Nguyễn Thị Phương N; có chồng và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại: có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 09/12/2018, Công an Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nhà số 154/136/38 A, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, khi kiểm tra tại phòng ngủ trên lầu căn nhà thì Lê Nguyễn Phương V lấy ra 01 áo khoác màu đen (đang treo trong ngăn tủ thứ 04), trong túi áo bên trái có 01 hộp giấy màu nâu nhạt (trên nắp hộp có ghi “HONEST”) bên trong có 23 túi nylon chứa ma túy gồm: 21 gói nhỏ, 02 gói lớn; cơ quan Công an Phường 3 thu giữ ma túy và tạm giữ của Vy ½ đoạn ồng nhựa cắt xéo 01 đầu, 01 đầu dán kín. Trong lúc kiểm tra có Văn Huệ T (chồng V Lê Nguyễn Phương V) và Lê Nguyễn Phương T (em Lê Nguyễn Phương V) nên Công an phường đưa tất cả về trụ sở Công an phường làm việc và lập biên bản bắt người quả tang đối với Lê Nguyễn Phương V. Sau đó, hồ sơ chuyển đên Cơ quan điều tra Công an Quận 8 điều tra xử lý. Theo kết luận giám định số 163, ngày 12/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 23 gói nylon (để trong hộp giấy có in chữ “HONEST”) được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Nguyễn Phương V, Lê Minh T (người chứng kiến) và hình dấu Công an Phường 3, Quận 8 gởi đến giám định có khối lượng 5,2474 gam (năm phẩy hai bốn bảy bốn) gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Lê Nguyễn Phương V khai nhận: Bản thân Lê Nguyễn Phương V nghiện ma túy, nên khoảng 18 giờ ngày 02/12/2018, Lê Nguyễn Phương V thuê xe ôm đến khu vực cầu K, Phường 3, Quận 8 gặp và mua của người phụ nữ tên M (không xác định được lai lịch) 6.000.000 đồng ma túy, M đưa cho Lê Nguyễn Phương V 25 gói nylon chứa ma túy. Có ma túy, Lê Nguyễn Phương V mang về nhà sử dụng hết 02 gói, 23 gói còn lại bỏ trong 01 cài hộp có ghi chữ “HONEST” và để trong túi áo khoác màu đen treo ở trong ngăn tủ để sử dụng dần. Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 09/12/2018, Công an phường kiểm tra hành chính và Vy tự lấy số ma túy trên giao cho cơ quan phường để lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lê Nguyễn Phương V. Tại thời điểm Công an Phường 3, Quận 8 kiểm tra hành chính, có mặt của Văn Huệ T (chồng V Lê Nguyễn Phương V y) và Lê Nguyễn Phương T (em Lê Nguyễn Phương V); nhưng cả Tùn Văn Huệ T và Lê Nguyễn Phương T đều không liên quan đến hành vi của Vy. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2019/HSST ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Phương V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Nguyễn Phương V 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và án phí. Ngày 19/6/2019 bị cáo Lê Nguyễn Phương V có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm đã tuyên, với nội dung kháng cáo: xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi xem xét các tình tiết phạm tội của bị cáo trong vụ án, đánh giá bản án sơ thẩm về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đã đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 09/12/2018 tại số nhà 154/136/38 A, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Nguyễn Phương V đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng, với khối lượng 5,2474 g, loại Methamphetamine thuộc trường hợp “Methaphetamine có khối khượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” nên Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Lê Nguyễn Phương V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội, không oan.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong hạn luật định là hợp lệ.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa chữa bổ sung năm 2017 để từ đó xử phạt bị cáo cáo 06 năm 06 tháng tù là phù hợp.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Nguyễn Phương V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Phương V 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tình từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo Lê Nguyễn Phương V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:"
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao;
(1) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
(1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND Quận 8;
(1)
- P.PC53-CA TP.HCM;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Trại giam;
(1)
- Thi hành án Quận 8;
(2)
- TAND Quận 8;
(1)
- Công an Quận 8;
(1)
Vũ Hoài Nam
- UBND nơi BC cư trú;
(2)
- Sở Tư pháp;
(1)
- Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (18)
(7)
"