- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 394/2018/HNGĐ – ST Ngày 04-7-2018. V/v tranh chấp “ Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Hai.
2. Ông Nguyễn Văn Chót.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí-Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 247/2018/TLST– HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1304/2018/QĐST–HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị C, sinh năm 1992; địa chỉ: 78/3 ấp QA, xã L, huyện P. Chị C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: 78/3 ấp QA, xã L, huyện P. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Nguyễn Thị C trình bày:
Vào năm 2010 chị và anh Đ được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới; hôn nhân tự nguyện; anh, chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/9/2010. Trong thời gian chung sống chị và anh Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thanh K, sinh ngày 04/10/2014; hiện con chung đang sống chung với anh Đ.
Anh chị không tạo lập được tài sản chung; nợ chung: không có.
Lý do chị và anh Đ không còn sống chung: do anh Đ có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với người khác; gia đình hai bên có nhiều lần hàn gắn cho chị và anh Đ nhưng anh Đ không thay đổi. Hiện nay anh Đ đã có con với người khác nên chị và anh Đ đã sống ly thân hơn 01 năm.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: chị yêu cầu ly hôn với anh Đ. Khi ly hôn chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng cho chị.
- Về con chung: chị đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thanh Kết, sinh ngày 04/10/2014 cho anh Đ trực tiếp nuôi và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không có không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị C và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của chị C và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Xét thấy: từ tháng 2 năm 2017 (âm lịch) đến nay chị C và anh Đ không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai, cả hai không có thiện chí hàn gắn tình cảm với nhau. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền: anh Nguyễn Thanh Đ có đăng ký hộ khẩu tại 78/3 ấp QA, xã L, huyện P, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh Đ các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đ đều vắng mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: năm 2010 chị C và anh Đ tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/9/2010. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị C và anh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Năm 2017 chị C và anh Đ phát sinh mâu thuẫn do anh Đ có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với người khác; gia đình hai bên có nhiều lần hàn gắn cho anh chị nhưng anh Đ không thay đổi nên chị C và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2017 (âm lịch) đến nay. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị C không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
Về con chung: chị C và anh Đ có một con chung tên Nguyễn Thanh Kết, sinh ngày 04/10/2014, khi ly hôn chị C đồng ý giao con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi và chị C không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy: từ khi chị C và anh Đ không còn sống chung cho đến nay anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao con chung tên Nguyễn Thanh K cho anh Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp. Do anh Đ không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Nguyễn Thị C có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh Nguyễn Thanh Đ có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị C trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị C phải nộp án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C.
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyễn Thị C. Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ. Do chị C không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: anh Nguyễn Thanh Đ được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thanh K, sinh ngày 04/10/2014. Do anh Đ không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Chị Nguyễn Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết chị Nguyễn Thị C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Thanh Đ có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: chị C trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
5. Veà aùn phí hôn nhân và gia đình sơ thaåm: chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014305 ngày 21 tháng 02 năm 2018 và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND tỉnh;
- Đương sự;
- Chi cục THADS huyện;
- UBND xã Hòa Lợi;
Cao Thanh Minh
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chót-Dƣơng Văn Hai
Cao Thanh Minh
| Nơi nhận: -VKSND huyện; - TA tỉnh; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Tân Phong; - Lưu. Caùc Hoäi thaåm nhaân daân Chuû toaï phieân toaø Nguyễn Văn Chót – Phạm Minh Đạt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ HUỲNH THỊ PHÊ Thaåm phaùn – Huyønh Thò Pheâ |